Trao quyền tự chủ nhiều hơn cho hợp tác xã và xã viên để không hành chính hóa hợp tác xã

ĐBQH Cao Đức Phát (Đăk Lăk) 20/06/2012 08:47

Tôi nhất trí với định nghĩa về hợp tác xã được nêu trong Điều 4 của dự Luật Hợp tác xã (sửa đổi). Định nghĩa như vậy thể hiện rõ hơn bản chất của hợp tác xã, hợp tác xã không phải là doanh nghiệp ở mục tiêu, quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối.

Về quan hệ mục tiêu, hợp tác xã là tối đa lợi ích của xã viên thay vì lợi nhuận; ở quan hệ sở hữu và quản lý, hợp tác xã vận hành theo đối nhân là chính chứ không phải theo vốn góp là chính và phân phối lợi nhuận theo mức độ sử dụng dịch vụ của xã viên, theo vốn góp (chứ không phải chỉ theo vốn góp như ở trong doanh nghiệp). Do có sự khác biệt cơ bản như vậy, nên không thể quy định hợp tác xã là doanh nghiệp như luật trước đây. Quy định này hết sức quan trọng, là xuất phát điểm quyết định hướng của các quy định khác trong dự luật.

Theo tôi, luật này quy định các nguyên tắc chung cho tất cả các loại hình hợp tác xã, nhưng cũng cần thể hiện rõ hơn đặc thù của một số loại hợp tác xã chính như: hợp tác xã nông nghiệp và phải chặt chẽ để không bị lạm dụng. Hiện nay, cả nước ta có 14.500 hợp tác xã, nhưng báo cáo mà tôi có được thì có tới 9.085 hợp tác xã nông nghiệp với 6,7 triệu xã viên là các hộ nông dân nhỏ, lẻ. Về cơ bản, ngày nay xã viên vào hợp tác xã nông nghiệp, ruộng đất nhà ai vẫn của nhà ấy. Xã viên chỉ góp vốn để mua sắm một số tài sản chung cần thiết để làm dịch vụ cho chính mình mà một hộ không làm được hoặc làm kém hiệu quả. Thay vì chủ yếu làm dịch vụ cho người khác như các hợp tác xã dịch vụ, thậm chí 95% các hợp tác xã chuyển đổi thì xã viên không góp vốn thêm mà chỉ tiếp tục khai thác các hệ thống thủy lợi và cơ sở vật chất đã có từ trước. Do vậy, đa số các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay có rất ít vốn, bình quân chỉ có 816 triệu đồng, trong đó 31% là vốn lưu động và thực tế 80% hợp tác xã đang làm dịch vụ thủy lợi, 30% làm dịch vụ cung ứng vật tư, 97% làm dịch vụ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, 20% làm dịch vụ làm đất... Do vậy, quy định về điều kiện thành lập, vận hành, và chính sách của Chính phủ đối với hợp tác xã nông nghiệp phải khác so với hợp tác xã dịch vụ và doanh nghiệp.

Chính sách ưu đãi cho hợp tác xã nông nghiệp thực chất là chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hộ nông dân nên phải khác so với hợp tác xã dịch vụ và doanh nghiệp. Những đặc thù đó nên được thể hiện trong luật này, sau khi QH thông qua Chính phủ sẽ có Nghị định hướng dẫn thi hành, nhưng Nghị định cũng không thể vượt qua được các quy định của Luật.

Tôi đề nghị, một số quy định cần được rà lại, thể hiện sát hơn bản chất của hợp tác xã, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho hợp tác xã và xã viên để không hành chính hóa hợp tác xã. Lãi của đa số hợp tác xã nông nghiệp là từ thu dịch vụ phí, từ xã viên nên việc chia lãi thực chất là trả lại khoản đã thu của xã viên. Do vậy, nên để xã viên tự quyết và không nên đánh thuế. Nếu hợp tác xã có một số thu nhập nào đó từ dịch vụ cho bên ngoài thì cũng nên giảm thuế để khuyến khích và tạo điều kiện cho hợp tác xã phát triển. Do vậy, tôi đề nghị cân nhắc lại Điều 49 theo hướng này.

ĐBQH Cao Đức Phát <i>(Đăk Lăk)</i>