Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII
* Đề án Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH: Trong công tác lập pháp, cần đề cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan thẩm tra và cơ quan tham gia thẩm tra * Dự án Luật Xuất bản (sửa đổi): Các quy định còn chung chung, tính khả thi không cao
Sáng 4.6, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu, QH đã thảo luận tại hội trường về Đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH.
Theo báo cáo giải trình, tiếp thu Đề án, dự thảo Nghị quyết tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH do Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý trình bày, Ủy ban Pháp luật tán thành với quy định của dự thảo Nghị quyết là các cơ quan tham gia thẩm tra phải có ý kiến bằng văn bản gửi đến cơ quan chủ trì thẩm tra để có thể huy động được trí tuệ của các cơ quan của QH nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm tra, về các biện pháp đổi mới hoạt động thẩm tra. Theo đó, cần đề cao vai trò, trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của QH, cơ quan chủ trì thẩm tra và tham gia thẩm tra. Việc quy định ý kiến thẩm tra của cơ quan tham gia thẩm tra phải được thể hiện bằng văn bản là một yêu cầu thực tế. Quy định này đòi hỏi cơ quan tham gia thẩm tra phát huy trí tuệ tập thể của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban hoặc toàn thể Hội đồng Dân tộc và Ủy ban của QH đối với vấn đề tham gia. Tuy nhiên, để có thể triển khai thực hiện được việc này thì phải quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan trình dự án phải gửi dự án, tài liệu có liên quan cho cơ quan chủ trì thẩm tra thì phải gửi đồng thời cho Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Về các vấn đề xã hội cũng như cho cơ quan tham gia thẩm tra khác để cơ quan này nghiên cứu, tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia và chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra bằng văn bản gửi đến cơ quan chủ trì thẩm tra.
Đa số ĐBQH cơ bản thống nhất với Báo cáo thẩm tra giải trình, tiếp thu, ĐB Phùng Đức Tiến (Hà Nam) đề nghị, trong công tác lập pháp, để dự án luật có chất lượng và hiệu quả trong cuộc sống, đề nghị các cơ quan soạn thảo bảo đảm đúng tiến độ, tạo điều kiện cho các Ủy ban, Hội đồng Dân tộc xem xét thẩm định một cách chắc chắn hơn. Liên quan đến vấn đề cơ quan thẩm tra phải dành thời gian phối hợp từ đầu với cơ quan soạn thảo để trao đổi, xử lý và thu hẹp các vấn đề có ý kiến khác nhau, ĐB Trần Minh Diệu (Quảng Bình) cho rằng, cần xác định rõ mức độ phối hợp giữa cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo đến đâu, phối hợp thế nào để mỗi cơ quan không mất đi sự độc lập tương đối của mình; phối hợp thế nào để cơ quan thẩm tra không can thiệp quá cụ thể vào tư duy thiết chế của cơ quan soạn thảo, không làm triệt tiêu động lực tích cực của cơ quan soạn thảo. Nếu phối hợp ngay từ đầu với mọi công đoạn của quá trình soạn thảo theo nghĩa cùng làm thì ưu điểm là dễ dàng xử lý và thu hẹp các vấn đề có ý kiến khác nhau, dễ đi đến thống nhất giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra. Tuy nhiên, sự thống nhất như vậy không phải là mong muốn của QH và cũng chưa phải là thước đo chất lượng của một dự án luật khi trình ra QH. ĐB Trần Minh Diệu đề xuất, QH cần nghiên cứu để có một cơ chế phối hợp hợp lý giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình xây dựng luật. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý phối hợp ở giai đoạn mà cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đều có trách nhiệm cùng giúp UBTVQH tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự án luật trước khi trình QH xem xét thông qua. Đồng tình với quan điểm trên, ĐB Trần Thị Hoa Sinh (Lạng Sơn) đề nghị QH cần quy định cụ thể hơn chức năng phối hợp giữa cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo trong quá trình xây dựng luật.
Buổi chiều, QH đã thảo luận tại Tổ về dự án Luật Xuất bản (sửa đổi).
Các ĐBQH tán thành việc ban hành luật quy định về hoạt động xuất bản do văn hóa đọc đang dần được khôi phục lại trong xã hội sau một thời gian phai nhạt. Việc ban hành quy định mới để phù hợp sự phát triển của hoạt động xuất bản cũng sẽ giúp giữ gìn và phát huy nét văn hóa này. Tuy nhiên, theo ĐB Nguyễn Thị Nhung (Khánh Hòa), Luật Xuất bản được ban hành trong nhiệm kỳ QH Khóa XI, song đến nhiệm kỳ Khóa XII đã phải sửa đổi. Và tại nhiệm kỳ QH Khóa XIII tiếp tục sửa đổi toàn diện, với nhiều thay đổi trong cấu trúc dự thảo luật. Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn từ khi có hiệu lực thi hành văn bản luật về công tác xuất bản đã phải sửa đổi. ĐB Nguyễn Thị Nhung nêu câu hỏi: có nên sửa đổi toàn diện khi chưa nghiên cứu kỹ lưỡng, tổng kết thực tiễn thi hành luật pháp hay không? Theo dự thảo Luật Xuất bản (sửa đổi) có 12 điều quy định giao Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện; 6 điều giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hướng dẫn. Điều này dẫn đến các quy định chung chung, có nhiều điểm không hợp lý và tính khả thi không cao. Do đó, ĐB Cao Sỹ Kiêm (Thái Bình) đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo cần làm rõ Luật hiện hành có nhiều hạn chế là do nhận thức chưa đúng và đủ về hoạt động xuất bản, cũng như chưa lường đoán được sự phát triển của hoạt động này? Hay do văn bản hướng dẫn chưa quy định rõ, thực hiện pháp luật chưa nghiêm khiến tình hình xuất bản các ấn phẩm lộn xộn?
Cụ thể hơn, ĐB Hà Minh Huệ (Bình Thuận) chỉ rõ, do chưa có thực tế kiểm nghiệm nên Ban soạn thảo có quan điểm quy định về xuất bản ấn phẩm điện tử chỉ mang tính nguyên tắc; giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt trong việc quản lý hoạt động xuất bản này. Theo ĐB Hà Minh Huệ, nếu chấp nhận cách thức xây dựng dự thảo luật như vậy sẽ không bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật, lặp lại tình trạng luật khung, luật ống. Bởi vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần chuyển từ cách làm đánh trống, ghi tên sang xây dựng quy định pháp luật kỹ lưỡng hơn, chỉ đưa vào những nội dung đã được nghiên cứu, rà soát cẩn trọng. Về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng, hiện đã xuất hiện xu hướng tổ chức toàn bộ quy trình xuất bản trên môi trường mạng bao gồm: sáng tạo tác phẩm, tổ chức bản thảo, biên tập, kiểm duyệt về nội dung… Do đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát kỹ thực tế và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tham vấn các đơn vị kỹ thuật, các chuyên gia về công nghệ thông tin để quy định ngay trong Luật các nội dung cơ bản và phạm vi quản lý về xuất bản điện tử.
Về việc cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm, các ĐBQH tán thành giữ quy định cơ sở in xuất bản phẩm phải được cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm. Tuy vậy, cần phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm như Luật hiện hành. Bởi nếu việc cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm quy về Bộ Thông tin và Truyền thông thì sẽ không đúng với tinh thần cải cách thủ tục hành chính, phân cấp thẩm quyền quản lý giữa Trung ương và địa phương hiện nay. Bên cạnh đó, ĐB Trần Dương Tuấn (Bến Tre) cho rằng, không nên quy định giấy phép hoạt động in có thời hạn 5 năm kể từ ngày cấp. Nguyên nhân do thời hạn ngắn thì việc xây dựng chiến lược phát triển ngành in sẽ khó thực hiện. Mặt khác, quy định như vậy có thể sẽ giúp cơ chế xin – cho phát triển, khiến doanh nghiệp, tổ chức xuất bản mất thêm thời gian, kinh phí hoạt động. Tán thành với quan điểm này, một số ĐBQH cho rằng, không nên kiểm soát việc in ấn, phát hành, xuất bản thông qua quản lý giấy phép hoạt động mà các cơ quan chức năng cần tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra.