Không rõ quan điểm sẽ không tái cơ cấu được doanh nghiệp Nhà nước

Vũ Dũng 04/06/2012 07:51

Cơ chế tài chính hiện hành chưa giúp giám sát chặt chẽ quá trình kinh doanh được cho là một nguyên nhân của tình trạng thua lỗ, phá sản của doanh nghiệp Nhà nước. Song, trước khi sử dụng các công cụ tài chính để hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu thì nhiều ý kiến cho rằng, cần minh định vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế. Khi quan điểm không rõ ràng thì các giải pháp, công cụ thực hiện sẽ bị lạc hướng, mục tiêu tái cơ cấu có thể không hoàn thành.

Quan điểm thống nhất hiện nay là tái cơ cấu làm sao giúp cho doanh nghiệp Nhà nước cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, nâng cao hiệu quả hoạt động để tương xứng với nguồn lực được giao… Thống nhất như thế, nhưng nhiều chuyên gia kinh tế lại khúc mắc về câu chuyện, vậy doanh nghiệp Nhà nước sẽ đóng vai trò gì trong nền kinh tế? Bộ Tài chính thì cho rằng phải quán triệt chức năng của Nhà nước là điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua sử dụng các công cụ điều tiết, trong đó công cụ quan trọng là doanh nghiệp Nhà nước. Nhưng mới đây Ủy ban Kinh tế đã đề xuất không nên sử dụng doanh nghiệp Nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô.

Ông Trương Đình Tuyển, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia ủng hộ quan điểm không nên giao cho doanh nghiệp Nhà nước thực hiện nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô. Trả lời câu hỏi doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò gì trong nền kinh tế, ông Trương Đình Tuyển cho rằng, trước mắt, doanh nghiệp Nhà nước cần đóng vai trò đi đầu trong thực hiện chính sách công nghiệp của nước ta trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tế, nhiều doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực tài chính tốt nhưng chủ yếu vẫn kinh doanh bất động sản, chứng khoán, chưa tham gia vào các ngành công nghệ cao. Và theo quan điểm của chuyên gia này thì chúng ta cần đặt doanh nghiệp Nhà nước bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Đồng thời, cần sử dụng doanh nghiệp Nhà nước là công cụ quan trọng để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng là kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc, Nhật Bản.

Nguồn: tamnhin.net
Nguồn: tamnhin.net

Đến đây, một câu hỏi tiếp theo được đặt ra là nếu coi doanh nghiệp Nhà nước có vai trò chủ đạo như thế, thì sự chủ đạo ấy thể hiện như thế nào? Có phải cứ cấp vốn cho một doanh nghiệp thật nhiều để lớn về quy mô là chủ đạo hay không? Về điều này, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nước Phạm Đình Soạn cho rằng, nhất thiết phải phân biệt được rõ vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước với sự chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Vì kinh tế Nhà nước có phạm vi rộng hơn so với doanh nghiệp Nhà nước. Cách nhìn vấn đề này rất ảnh hưởng đến cách tái cơ cấu, bố trí lại doanh nghiệp.

Nhìn vào thực tế các Tập đoàn và Tổng công ty Nhà nước hiện nay, nhiều doanh nghiệp được giao rất rất nhiều vốn, nhưng làm ăn lại kém hiệu quả, gây thất thoát lãng phí lớn tài sản quốc gia. Trong đó, phải kể tên hai tập đoàn là Vinashin và Vinalines. Bài học từ sự thua lỗ của hai tập đoàn này cho thấy, không phải to đã hiệu quả, đã chủ đạo. Bao nhiêu năm sử dụng vốn Nhà nước nhiều đến như thế, cơ chế được ưu đãi là thế, mà công nghiệp đóng tàu Việt Nam vẫn là lắp ráp; nhiều tuyến vận tải biển quốc tế từ cảng của nước ta đi vẫn do nước ngoài nắm giữ…

Đó là hệ quả của việc sơ hở trong giám sát, hệ quả của việc thiếu cơ chế giám sát tài chính. Theo Chủ tịch Hiệp hội kế toán, kiểm toán Việt Nam Đặng Văn Thanh, chúng ta chưa có có một chế độ kế toán hoàn chỉnh cho tập đoàn kinh tế. Trong khi đó, tập đoàn kinh tế, tổng công ty ở nước ta kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, đan chéo nhau, dọc có, ngang có. Điều này dẫn đến báo cáo tài chính hợp nhất nói sai cũng được, nói đúng cũng được. Khi nào xảy ra mất vốn, thất thoát lớn vỡ lở ra rồi mới bị phát hiện. Nhưng đến lúc đó thì đã tan hoang cả. Ông Đặng Văn Thanh đề nghị, cần bắt đầu tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước từ tái cơ cấu tài chính. Bởi yếu tố này quyết định dòng tiền chảy vào đâu, doanh nghiệp sẽ đầu tư vào ngành nghề nào. Nếu không thay đổi về quản lý tài chính tại doanh nghiệp Nhà nước thì sẽ xảy ra tình trạng lĩnh vực muốn làm không có tiền, song tiền vẫn chảy vào lĩnh vực nói là không làm.

Cơ chế tài chính mà ông Đặng Văn Thanh đề nghị là một cơ chế giám sát các tập đoàn kinh tế. Bởi để buộc doanh nghiệp Nhà nước cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, không có cách nào khác là có cơ chế buộc các đơn vị này phải minh bạch, qua nhiều vòng kiểm soát. Đó là sẽ công cụ phòng vệ rất quan trọng để tránh sự đổ vỡ của một doanh nghiệp. Hơn nữa, bài học cho thấy rõ, giám sát yếu, tập đoàn càng to, càng độc quyền mà sai phạm tài chính, thì sự đổ vỡ càng gây đau đớn, thất thoát.  Tất cả những công cụ, những giải pháp như cạnh tranh bình đẳng, minh bạch trong hoạt động… đều phải phục vụ một mục tiêu doanh nghiệp Nhà nước phải mang lại hiệu quả kinh tế. Đây là con đường không thể nào khác của một doanh nghiệp Nhà nước. Còn để hiệu quả kinh tế đó nhằm vào lĩnh vực nào, mục tiêu chiến lược gì, thì lúc đó sẽ là vai trò điều tiết của Nhà nước.

 Nguyên nhân của sự thất bại trong tiến trình
tái cấu trúc của nhiều Doanh nghiệp:

Thứ nhất, thiếu gắn kết chiến lược: bản chất hoạt động tái cấu trúc là để giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu chiến lược, vì vậy, trước khi đi vào thực hiện tái cấu trúc, doanh nghiệp phải xác định rõ tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị, chiến lược, mục tiêu chiến lược và kế hoạch chiến lược của mình. Không xác định rõ các vấn đề trên, sẽ rất dễ đẩy hoạt động tái cấu trúc đến chỗ mất phương hướng và không giải quyết tận gốc các vấn đề.

Thứ hai, thiếu kế hoạch tổng thể: thiếu kế hoạch tổng thể và khoa học, doanh nghiệp có thể không lường trước được các vấn đề cần giải quyết, không kết hợp được các mục đích vào các công việc cần làm, dẫn đến kết quả tái cấu trúc bị chắp vá, chồng chéo, làm đi làm lại gây lãng phí về nguồn lực của doanh nghiệp.

Thứ ba, thiếu công cụ quản lý và giám sát quá trình tái cấu trúc: vai trò vào hoạt động Quản lý dự án (Project Mamangement) và Quản lý thay đổi (Change Management) chưa thực sự được coi trọng trong quá trình tái cấu trúc. Tuy nhiên, thống kê cho thấy hoạt động chuyển đổi ở nhiều công ty bị thất bại mà nguyên nhân sâu xa là do Quản lý thay đổi kém hiệu quả.

Thứ tư, thiếu nguồn lực phù hợp: Nguồn lực triển khai tái cấu trúc có thể gồm các thành viên bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Việc một số doanh nghiệp tin tưởng và giao trọn hoạt động này cho đội ngũ tư vấn là hoàn toàn sai lầm vì về thực chất, tư vấn có kinh nghiệm và năng lực định hướng, đánh giá, đưa ra các tư vấn mang tính gợi mở hoặc có các lựa chọn có phân tích đa chiều nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra các quyết định tái cấu trúc, tuy nhiên, việc triển khai các quyết định này nằm ở đội ngũ lãnh đạo và nhân viên công ty. Thiếu sự tham gia và cam kết của các đối tượng trên, hoạt động tái cấu trúc sẽ rất khó thành công.

Thứ năm, thiếu cam kết từ các cấp: như trên đã trình bày, sự cam kết cải tổ là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của hoạt động tái cấu trúc.

Thứ sáu, vấn đề tập trung và phân chia quyền lực: tái cấu trúc sẽ động đến mọi ngóc ngách trong hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể là việc tập trung và phân chia quyền lực. Thiếu thống nhất trong quyết định này gây cản trở không nhỏ tới tiến độ và thậm chí là sự thành công của các dự án tái cấu trúc.

 Cuối cùng, quá coi trọng việc áp dụng phần mềm ERP như là giải pháp hoàn hảo trong tái cấu trúc: Nhiều doanh nghiệp tìm kiếm một mô hình quản lý hiệu quả thông qua áp dụng ERP, và coi đó là 1 giải pháp của tái cấu trúc doanh nghiệp. Điều này là hoàn toàn sai lầm. Thực chất ERP chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động quản lý doanh nghiệp.

Theo Báo cáo cuối cùng trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ đổi mới doanh nghiệp nhà nước và Quản trị công ty” gửi Ngân hàng Phát triển Châu Á và Bộ Tài chính Việt Nam của  Ernst & Young

Vũ Dũng