Để có một Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế hoàn chỉnh hơn

Trần Văn
Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách
04/06/2012 07:49

Nội dung Đề án mang nhiều định tính thể hiện sự mong muốn hay lựa chọn phát triển nhưng có ít định luợng, nhất là các mục tiêu về chất lượng phát triển. Hầu như không có số liệu phát triển trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai nên thực ra rất khó đánh giá, phân tích chất lượng của Đề án và nhất là không chỉ rõ nguồn lực tài chính để đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Đề án.

Báo cáo mới nhất của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) về kinh tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tháng 4 năm 2012 cho thấy dự báo tăng trưởng GDP năm 2012 của nhóm các nước Nam Á là 6,8%, khối ASEAN 5,2%, chung cho cả Châu Á 6%. Trong đó nhiều quốc gia có tốc độ phát triển cao như Lào 8,4%, Indonesia 6,1%, Campuchia 6,2%, Srilanka 7,5%, Ấn Độ 6,9%… Nếu Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6% năm nay thì cũng ở mức độ khiêm tốn, nếu không nói là vẫn thấp so với khu vực. Tôi nhìn nhận sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, ngoài yếu tố phải đảm bảo yêu cầu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô thông qua chính sách thắt chặt tiền tệ và cắt giảm chi tiêu công trong những tháng đầu năm, thì những hạn chế về thể chế do tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thiếu minh bạch và chậm cải cách hành chính, môi trường kinh doanh với nhiều rủi ro về chính sách… là những yếu tố không thể xem nhẹ. Đây chính là những vấn đề có thể khắc phục sớm mà không cần quá nhiều nguồn lực vật chất ngay trong giai đoạn đầu thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.

Tuy nhiên, khi xem xét, thảo luận Đề án này, nhiều ĐBQH không khỏi lo lắng khi còn quá nhiều nội dung cần hoàn thiện. Hai văn kiện vô cùng quan trọng là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đều đã chỉ rõ “phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt”, “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Trong khi đó, Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế lại đề cập chưa thoả đáng đến định hướng, yêu cầu phát triển bền vững của đất nước nên hai yếu tố xã hội và môi trường hầu như chưa được phân tích kỹ trong các đề án thành phần. Tôi nhận thức được rằng, nếu xa rời các mục tiêu phát triển bền vững đã được thể hiện trong Cương lĩnh, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội  2011 - 2020 mà Đại hội XI của Đảng đã thông qua như đã nêu ở trên, thì Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng có lẽ chưa thật hoàn chỉnh và dễ dẫn đến xung đột với các mục tiêu xã hội và môi trường trong dài hạn. Cụ thể là Đề án chưa đánh giá được tác động của tái cơ cấu kinh tế đối với các mục tiêu xã hội, nói chung là chất lượng cuộc sống như: việc làm và thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giãn cách giàu nghèo, vùng miền,…; chưa đánh giá được tác động của Đề án đến môi trường, sinh thái, đến tài nguyên thiên nhiên và đất đai, đến ứng phó với biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng. Những bước đi của chúng ta trong 10 năm tới sẽ là nền tảng cơ bản cho các bước tiến xa hơn tới giữa thế kỷ XXI nên rất quan trọng.

Về định hướng cụ thể tái cơ cấu lại một số ngành kinh tế, ngoài một số ngành đã được lựa chọn, có lẽ Đề án chưa chú ý thích đáng đến một số ngành vô cùng quan trọng đối với sự phát triển một nền công nghiệp vững mạnh như: cơ khí, chế tạo máy, luyện kim màu, vật liệu mới, năng lượng tái tạo,… để chủ động phát triển, kể cả công nghiệp quốc phòng; các ngành công nghệ bảo quản, chế biến sâu sau thu hoạch đối với các nông, thủy hải sản hàng hóa, sản phẩm từ cây công nghiệp dài ngày để có một nền nông nghiệp công nghệ cao, giá trị gia tăng cao trên cơ sở lợi thế so sánh của quốc gia.    

Đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bằng 160% GDP, Đề án chưa đề cập và phân tích mối quan hệ giữa nền kinh tế với thị trường quốc tế, hợp tác và phân công lao động quốc tế, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong tổng thể quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong toàn cầu hơn; những thuận lợi, khó khăn, ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của kinh tế thế giới đối với quá trình tái cơ cấu kinh tế ở nước ta, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến các thị trường trọng điểm của nước ta như Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc.

Nội dung Đề án mang nhiều định tính thể hiện sự mong muốn hay lựa chọn phát triển nhưng có ít định luợng, nhất là các mục tiêu về chất lượng phát triển. Hầu như không có số liệu phát triển trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai nên thực ra rất khó đánh giá, phân tích chất lượng của Đề án và nhất là không chỉ rõ nguồn lực tài chính để đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Đề án. Đặc biệt là làm rõ vai trò của nguồn vốn đầu tư phát triển từ NSNN, tín dụng nhà nước, nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước vốn nắm giữ những nguồn lực tài chính, tài nguyên khoáng sản, đất đai lớn của quốc gia, có tính chất dẫn dắt đối với các nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư. Đề án cũng thiếu hẳn phần đánh giá những rủi ro, tác động trái chiều, không mong muốn của chính sách, thiếu các biện pháp, công cụ, pháp lý tác động trực tiếp hay gián tiếp, cấp quốc gia, vùng, địa phương đến các đối tượng cần điều chỉnh như doanh nghiệp, người tiêu dùng; thiếu lộ trình và các chỉ tiêu cụ thể làm mục tiêu để phấn đấu.

Bổ sung những khía cạnh này, Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh chắc càng thêm thuyết phục, càng khả thi hơn.

Trần Văn<br><i>Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách</i>