ĐBQH Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng): Hai chức năng chính là chăm lo đời sống và bảo vệ quyền lợi của người lao động rất mờ nhạt…
Hệ thống tổ chức và tài chính công đoàn là hai nội dung chính, rất quan trọng, thể hiện địa vị pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện tốt chức năng của công đoàn.
Về hệ thống tổ chức và tên gọi của các cấp công đoàn quy định tại Điều 7, hiện nay, tổ chức bộ máy các cấp công đoàn còn nhiều tồn tại, nhiều cấp trung gian mang nặng tính hành chính cấp trên, cấp dưới, chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, chưa phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cấp trên và cấp trên trực tiếp, chưa xác định rõ địa vị pháp lý và vai trò của từng cấp công đoàn trong chỉ đạo cơ sở cũng như tổ chức để hoạt động liên quan đến người lao động. Tên gọi của các cấp công đoàn chưa bảo đảm nguyên tắc thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, chẳng hạn ở trung ương có Tổng Liên đoàn Lao động, cấp tỉnh có Liên đoàn Lao động tỉnh, cấp huyện có Công đoàn huyện nhưng tại cấp huyện lại có Công đoàn giáo dục huyện, Công đoàn cơ sở trường học là cấp thứ 5 dẫn đến chồng chéo trong chỉ đạo hoạt động. Tình trạng "cha chung" nên khi nảy sinh những vấn đề vướng mắc về quan hệ lao động công đoàn lại rất lúng túng khi đề ra các giải pháp để cùng các cơ quan nhà nước giải quyết kịp thời, đối với các cấp công đoàn, tổ chức theo ngành nghề cũng tương tự như vậy.
Muốn giải quyết tồn tại trên thì Điều 7 phải chỉ rõ bộ máy của cả hệ thống công đoàn và từng cấp công đoàn theo nguyên tắc gì, theo mối quan hệ nào, tổ chức theo nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc ngành nghề hay theo số lượng đoàn viên. Mỗi cấp công đoàn có đặc thù riêng nên cần luật hóa và quy định rõ ràng, tránh sự tùy tiện, chủ quan duy y chí khi hình thành một cấp nào đó trong hệ thống công đoàn. Tôi đề nghị cần phải thống nhất hình thức, luật hóa nguyên tắc tổ chức hệ thống công đoàn ngay trong luật chứ không thể ghi như trong dự thảo do Tổng Liên đoàn hoặc do điều lệ quy định. Cần đổi mới tổ chức công đoàn để tránh việc hành chính tổ chức và hoạt động công đoàn, giảm bớt đầu mối, bớt khâu trung gian thì hoạt động của công đoàn mới có hiệu quả.
Thực tế hiện nay bộ máy công đoàn khá cồng kềnh, trong khi đó 2 chức năng cơ bản của công đoàn là chăm lo đời sống và bảo vệ quyền lợi của người lao động thì lại rất mờ nhạt. Chính vì vậy, tôi đề nghị sửa đổi Điều 7 theo hướng quy định rõ trong luật hệ thống tổ chức công đoàn gồm 4 cấp là Tổng công đoàn Việt Nam, Công đoàn tỉnh, Công đoàn huyện và Công đoàn cơ sở. Không giao vấn đề này cho Tổng công đoàn Việt Nam quy định trong điều lệ công đoàn.
Về tài chính công đoàn quy định tại Điều 26 dự thảo Luật, đây là vấn đề còn băn khoăn, có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giải trình cơ sở pháp lý của khoản thu 2%. Thời gian qua khi tổ chức lấy ý kiến dự án luật giữa các tổ chức công đoàn và doanh nghiệp hoàn toàn không tìm được tiếng nói chung. Ngành công đoàn cho rằng nguồn thu 2% là do đơn vị sử dụng lao động nộp theo quy định trong Luật Công đoàn từ năm 1957 đến nay vẫn áp dụng có hiệu quả, phù hợp với thực tế hoạt động của công đoàn nên cần tiếp tục thu. Nhưng các doanh nghiệp cho rằng nguồn thu này không có cơ sở pháp lý vững chắc, không hợp lý và không công bằng, theo quy định hiện hành, kinh phí hoạt động của công đoàn được ngân sách Nhà nước đảm bảo cân đối. Bên cạnh đó, khi đóng thuế doanh nghiệp đã gián tiếp hỗ trợ kinh phí công đoàn thông qua ngân sách Nhà nước nếu các đối tượng phải nộp kinh phí công đoàn bao gồm cơ quan, tổ chức doanh nghiệp thì rõ ràng ngân sách Nhà nước đã cấp trùng hai lần cho công đoàn: một lần là Chính phủ cấp theo Luật Ngân sách Nhà nước; một lần người sử dụng lao động nộp 2% quỹ lương, mặt khác, mức đóng góp này trên thực tế áp dụng đối với những đơn vị có tổ chức công đoàn. Do vậy, có tình trạng bất cập hiện nay nhiều đơn vị sử dụng lao động lách luật, tìm mọi cách ngăn cản việc thành lập công đoàn để tránh nghĩa vụ nộp 2%. Điều này tạo ra sự bất hợp lý và không công bằng giữa các đơn vị sử dụng lao động, làm ảnh hưởng đến việc thành lập tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Điều 26 dự thảo Luật quy định: "Chính phủ quy định chi tiết thực hiện khoản thu này sau khi thống nhất với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam". Vì sao không quy định rõ ràng khoản thu này trong luật để ĐBQH biểu quyết mà lại giao cho Chính phủ quy định chi tiết thực hiện khoản thu này sau khi thống nhất với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam?