Kỳ họp thứ Ba, QH Khóa XIII
* Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Cần xem lại quy định về tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ để tránh lãng phí nguồn nhân lực* Dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi: Mức phí bảo hiểm tiền gửi cần linh hoạt để bảo đảm ổn định thị trường tài chính - tiền tệ quốc gia
Sáng 23.5, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Tòng Thị Phóng, QH đã thảo luận tại hội trường về dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi).
Trình bày Báo cáo của UBTVQH giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho biết, tiếp thu ý kiến của các ĐBQH, dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã bổ sung các nguyên tắc đối với tiền lương tối thiểu theo tháng, tuần, ngày, giờ (được xác lập theo vùng, theo ngành) và giao cho Chính phủ quy định chi tiết để phù hợp với thị trường lao động, tình hình thực tiễn của từng ngành, nghề, loại công việc trong từng thời kỳ. Điều 92 của dự thảo Bộ luật cũng đã quy định nguyên tắc xác định tiền lương tối thiểu theo hai nhóm yếu tố, đó là điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động.
Về vấn đề tiền lương và mức lương tối thiểu, UBTVQH đề nghị bổ sung các quy định cụ thể về tiền lương như cơ cấu của tiền lương, căn cứ trả lương, chống phân biệt đối xử trong trả lương, hình thức trả lương, hệ thống thang, bảng lương. Điều 89 dự thảo Bộ luật chỉ quy định mức lương tối thiểu chung áp dụng cho người lao động, bởi có thể gây bất bình đẳng về quyền lợi giữa những người lao động có cùng trình độ nhưng ở các vùng khác nhau, ngành khác nhau sẽ có mức phụ cấp khác nhau. UBTVQH đề nghị bổ sung vào Khoản 2, Điều 89, tiêu chí chỉ số giá sinh hoạt làm căn cứ tính mức lương tối thiểu, đồng thời nên thay thế khái niệm chỉ số giá sinh hoạt thành chỉ số giá tiêu dùng hoặc nếu để là chỉ số giá sinh hoạt thì cần có giải thích từ ngữ. Có ý kiến đề nghị sửa lại khoản này thành “mức lương tối thiểu được xác định căn cứ vào giá sinh hoạt từng vùng, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác” sẽ phù hợp hơn. Vì quy định “căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ” là rất khó xác định và áp dụng vào thực tiễn. Đề nghị quy định rõ căn cứ vào “mức độ hoàn thành công việc của người lao động” để doanh nghiệp chủ động tính toán tiền thưởng, có lợi hơn cho người lao động.
Về chính sách đối với lao động nữ, trong đó có quy định về thời gian nghỉ thai sản, UBTVQH đề nghị quy định người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng, nhằm tạo điều kiện cho việc nuôi con của người mẹ. Quy định này vừa bảo đảm quyền lợi của trẻ em, vừa bảo đảm công bằng giữa các nhóm lao động nữ có điều kiện làm việc, điều kiện sức khỏe khác nhau. Có ý kiến ĐBQH đề nghị quy định trong trường hợp sau khi sinh con mà người mẹ chết khi đứa con chưa đủ 6 tháng tuổi thì người bố được nghỉ để chăm sóc con đến đủ 6 tháng tuổi.
Đa số các ý kiến tán thành với nhiều nội dung cơ bản của dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi). Các đại biểu cho rằng, dự thảo Bộ luật sửa đổi đã tiếp thu khá đầy đủ ý kiến của các ĐBQH tại kỳ họp thứ Hai, QH Khóa XIII. Song, về thời gian làm thêm, qua thảo luận tại phiên họp sáng qua, vẫn có hai luồng ý kiến. Luồng ý kiến thứ nhất đề nghị giữ nguyên quy định của Bộ luật Lao động hiện hành, làm thêm giờ nhưng không quá 4 giờ/ngày, 200 giờ/năm, trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ được làm thêm không quá 300 giờ/năm. Luồng ý kiến thứ hai đề nghị quy định thời gian làm thêm là 200 giờ/năm, đối với một số trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ được làm thêm nhưng tối đa không quá 360 giờ/năm. Đa số các ý kiến đồng tình với phương án 1, thời gian làm thêm không quá 300 giờ/năm vì phương án này phù hợp với thể chất người Việt Nam và xu hướng tiến bộ trên thế giới. ĐB Ngô Thị Minh (Quảng Ninh) nêu thực tế, có nhiều lao động phải làm thêm tới 300 giờ/năm, tuy nhiên người sử dụng lao động không trả tiền cho người lao động đúng với số giờ làm thêm, làm quá giờ này, mà không phải chịu bất cứ chế tài nào. Do đó, đề nghị quy định ngay trong dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) về trách nhiệm của người sử dụng lao động phải trả lương cho số giờ làm quá giờ trên thực tế của người lao động, kèm theo đó là chế tài đối với những trường hợp vi phạm.
Về tuổi nghỉ hưu, dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) cơ bản giữ như quy định trong Bộ luật hiện hành. ĐB Bùi Thị An (Hà Nội) cho rằng, lao động là nhu cầu của tất cả mọi người, do đó, cần phải đặt lại vấn đề là quyền lao động và quyền nghỉ ngơi của mọi người lao động cũng như mọi giới phải bình đẳng như nhau, trừ những người lao động nặng nhọc, hoặc làm việc trong môi trường độc hại, vũ trang... thì được quyền nghỉ sớm. ĐB Bùi Thị An nêu vấn đề, hiện nay, đội ngũ lao động nữ chiếm số đông trong lực lượng lao động ở nước ta. Để có được những người phụ nữ có trình độ chuyên môn, nắm giữ các vị trí quản lý, lãnh đạo; các kỹ sư, bác sỹ, dược sỹ giỏi chuyên môn hay công nhân lành nghề là quá trình khó khăn và tốn kém. Việc quy định độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ như hiện nay là lãng phí nguồn nhân lực cho xã hội và đất nước. Ví dụ cụ thể là ngành y tế, bên cạnh những yếu tố về cơ sở vật chất, hạ tầng thì không đủ nguồn lực cũng là một trong những lý do dẫn tới tình trạng quá tải tại các bệnh viện. Rất nhiều những y - bác sỹ, dược sỹ trong độ tuổi 55 - 60 về nghỉ hưu, trong khi lực lượng này là vàng ròng của ngành y tế, tương tự cũng như trong các ngành khác như khoa học, giáo dục. Đại biểu đề nghị Bộ Y tế xây dựng một đề tài đánh giá chỉ số minh mẫn và trí tuệ của phụ nữ trong độ tuổi từ 55 - 60 và so sánh với nam giới. Trên cơ sở đó, Chính phủ cũng như QH nên xem xét lại vấn đề quy định độ tuổi nghỉ hưu khác nhau giữa lao động nam và lao động nữ, vì sự bình đẳng giới thực sự. ĐB Nguyễn Thị Thanh Hòa (Bắc Ninh) cho rằng, cần bổ sung điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội. Theo đó, những người lao động đến độ tuổi nghỉ hưu theo quy định nhưng chưa bảo đảm đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thì cũng không được hưởng chế độ hưu trí.
Buổi chiều, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân, QH đã nghe Báo cáo của UBTVQH giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi và cho ý kiến về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật này.
Theo Báo cáo do Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu trình bày, bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng. Thảo luận về dự thảo Luật này, đa số đại biểu nhất trí với quy định của dự thảo Luật, chỉ bảo hiểm đối với tiền gửi bằng Đồng Việt Nam. Về mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi, nhiều ý kiến nhất trí giữ nguyên mô hình Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam do Thủ tướng thành lập như hiện nay và giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này. Tuy nhiên, ĐB Trần Du Lịch (TP Hồ Chí Minh) đề nghị, Khoản 1 điều 29 nên bổ sung và ghi rõ: Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính do Thủ tướng Chính phủ thành lập; quy định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức, hoạt động. Khoản 3 điều 29 nên bổ sung quy định Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Thủ tướng. Thủ tướng chỉ ký quyết định thành lập nhưng chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức, hoạt động do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định thì nên để Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký quyết định.
Đối với phí bảo hiểm tiền gửi, UBTVQH cho rằng: về bản chất, phí bảo hiểm tiền gửi không phải là một loại phí hành chính như quy định trong Pháp lệnh Phí và lệ phí, mà là một hình thức đề phòng rủi ro của hệ thống tổ chức tín dụng, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển quỹ bảo hiểm tiền gửi, góp phần bảo đảm tổ chức bảo hiểm tiền gửi đủ năng lực tài chính để xử lý, giải quyết khi có tình huống xảy ra. Ngoài ra, mức phí bảo hiểm cũng cần linh hoạt để bảo đảm ổn định thị trường tài chính - tiền tệ quốc gia. Vì vậy, UBTVQH cho rằng, nên giao Chính phủ quyết định khung phí bảo hiểm tiền gửi để phù hợp với thẩm quyền của Chính phủ. Trên cơ sở khung phí này, Ngân hàng Nhà nước quy định mức phí cụ thể cho các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dựa trên đánh giá, phân loại các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, ĐB Phan Văn Quý (Nghệ An) cho rằng, nên bổ sung quy định về nguyên tắc, tiêu chí tính phí bảo hiểm tiền gửi, theo đó tính phí bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở định mức tín nhiệm, mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hoặc quy định ngay mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể trong luật. Vì cách tính này có ưu điểm là: đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thì việc tính phí bảo hiểm theo mức độ rủi ro tạo ra một sân chơi cạnh tranh lành mạnh cho các ngân hàng, tạo động lực cho các tổ chức tín dụng trong quá trình hoạt động, tránh sự chi phối của nhóm lợi ích nhỏ. Đối với người gửi tiền, mức phí bảo hiểm gửi tiền sẽ phản ánh thực trạng mức độ tín dụng ngân hàng, là cơ sở để lựa chọn các ngân hàng khi tham gia gửi tiền. Cùng ý kiến với quan điểm trên, ĐB Nguyễn Ngọc Bảo (Vĩnh Phúc) cho rằng, nên tính phí bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở định mức tín nhiệm, mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, mức độ rủi ro cao thì thu mức phí cao, mức độ rủi ro thấp thì thu mức phí thấp.