Bí mật trong lòng núi
Truyện ngắn của Trương Tiếp Trương
![]() Minh họa của Thanh Huyền |
Một bận đi vô núi Hòn Hèo chặt trúc về làm cần câu, Tâm phát hiện một cái hang.
Nó men theo một khe suối cạn, rồi lọt vô hang hồi nào không hay. Cái hang không lớn nhưng rất sạch sẽ, có nước chảy ngầm. Hang tối om, phải mất một lúc lâu Tâm mới nhìn rõ những thứ xung quanh. Này là rễ cây sung xuyên suốt chiều dài của hang. Kia là một cửa ra vào khác, nhỏ hơn nhưng kín đáo hơn nhiều. Và rõ ràng tiếng ộp uông của những con chàng hiu, mà khi nhìn gần Tâm thấy sờ sợ làm sao vì nó đen thui. Chắc nó tu lâu lắm nên mới có được cái màu đen huyền bí như vậy.
Trong hang mát mẻ, Tâm thấy dễ chịu vô cùng, y như nó đã ở nơi này từ rất lâu, lâu lắm. Nhưng nó đã hứa đem trúc về cho đám bạn làm cần, nó phải đi tiếp thôi. Tâm phải đem trúc về cho thằng Nam vì nó nói nó có những thứ “người lớn”, sẽ cho Tâm coi. Tâm biết là cái gì rồi. Những phim hentai mà nó “đao” về được ấy mà. Thằng Nam ở phố nên dậy thì trước Tâm. Nó cứ rủ Tâm “khám phá bản thân”.
Hôm nay vào núi, Tâm không chỉ muốn chặt trúc về cho tụi bạn. Nó muốn tìm thứ gì đó về cho chị Bảy khùng, thứ gì đó làm chị ấy vui. Chị Bảy thất tình nửa tỉnh nửa điên, sống một mình dưới gầm cầu treo đã hai tháng nay, chỉ cách chòi vịt của Tâm có hai thửa ruộng. Chị ấy lượm ve chai, tự sống qua ngày. Đầu tổ quạ, áo đầm rách rưới che không hết một tấm thân nhếch nhác, chị Bảy sống chung với những bao tải ve chai to khủng và lời đàm tiếu của người đời. Người ta nói chị vốn trước là con nhà lành, là cô giáo tiểu học hẳn hoi, vậy mà vớ phải một thằng sở khanh nào đó, giờ ôm mối hận bất tiêu, đi đứng phiêu diêu. Nhưng Tâm chỉ thấy chị Bảy ngồ ngộ.
Tâm sẽ hái lá giang về cho chị Bảy nấu canh chua cá chốt. Thứ cá da trơn tí hon này kéo bầy kéo đàn dưới gầm cầu treo, cứ thả mồi xuống là giựt. Chị Bảy câu vụng, có bữa bị ngạnh cá nó chích vào tay, chị ấy la oai oái. Hồi còn sống mẹ cũng thường nấu canh chua cá chốt lá giang. Tâm cũng muốn hái trái bồ kết cho chị Bảy gội đầu nữa, chớ giữ làm chi cái đầu tổ quạ ấy miết. Nhưng chị Bảy nói xấu xí dơ dáy cho đàn ông nó tránh xa…
Lúc trước Tâm cũng hay chui xuống gầm cầu ngủ trưa. Ở đó mát mẻ và có những thứ gây tò mò. Những hình vẽ bậy bạ trên thành bê tông. Những câu thơ nửa mùa. Cả những lời nhắn nhủ không mấy tao nhã. Tuy nhiên có một câu mà nó thấy khác hẳn mấy câu khác. Cái câu ấy, khắc bằng dao khá sâu, bên cạnh hình ảnh nam nữ “thọ thọ rất thân”:
Hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống.
Tâm chép môi, “À, chắc đây là phương châm nè. Đại ca nào đó muốn truyền nghề cho người sau ấy mà”. Nó đâu biết đó là một câu trong Kinh Thánh, mà một tay ăn chơi láu cá nào đó đã đem gá vào những sự dung tục. Tuy nhiên nó lấy làm hãnh diện lắm. Thằng Nam cứ coi hentai thì biết đếch gì.
Ở Hòn Hèo không có thứ trúc đọt tăm như cần trúc Đà Lạt, nhưng làm cần câu cá phi cá bống thì không đến nỗi nào. Tâm lựa một chục cây, cột thành bó, vác xuống núi. Từ lưng chừng núi nhìn xuống đồng trũng, thấy mênh mang xanh ngát một màu. Và thương nhất là con sông nhỏ như một dải lụa bạc trong nắng chiều lấp lóa. Ở tâm điểm của toàn bộ bức tranh, chiếc cầu treo trông thật bé nhỏ.
Trời chiều nắng úa. Chị Bảy ngồi phân loại ve chai. Giấy các tông xếp qua một bên, chai nhựa vô một giỏ, lon bia vô một cần xé. Tâm nhớ mẹ nó lúc trước ngồi sàng gạo cũng như vậy. Thật không dễ để làm một đứa trẻ mồ côi. Đứa con trai mồ côi mẹ như trái bầu non bị ong chích, cứ đẹt đẹt thế nào ấy.
Ngồi xuống phụ chị lựa ve chai, Tâm nhỏ nhẹ, “Bảy à?”
“Gì nữa đây?”
“Có bài văn tui làm miết hỏng được, Bảy giúp tui với”.
“Đề bài là gì?”
“Hãy tả cảnh mẹ em gội đầu bên bờ suối”.
“Đề dễ vậy sao không làm được?”
“Mẹ tui mất lâu quá rồi, tui không nhớ gì hết”.
Chị Bảy nhìn ra xa. Cò từng đàn bay về tổ, kêu oác oác trên không trung. Mà không biết chúng có kêu hay không, hay là do chị tưởng tượng? Người ta nói chị điên và đã quên hết mọi sự, bục giảng, học sinh, đồng nghiệp… Thật ra đâu dễ gì quên. Văn chương là tiếng gọi bầy, lúc trước đi học cao đẳng, có ông giáo sư hay giảng như vậy.
Chị Bảy nhóm bếp, bắc nồi nước lên, cho lá giang vào và nêm sẵn. Lát nữa nước sôi chỉ cần cho cá chốt vào là xong. Tự nhiên chị muốn gội đầu, nhưng chị làm gì có dầu gội. Rồi chị tự nhủ, “Mình làm sao so được với mẹ nó?”
Chị Bảy và Tâm ngồi nhìn nồi canh bốc khói, im lặng. Như thể họ đã lại quá gần nhau, và giờ là lúc dang ra xa. Những vết thương cũ chừng như tái phát. Những hoảng sợ mơ hồ xuất hiện, trong khi lũ dơi đã bắt đầu ra khỏi gầm cầu, chuẩn bị cho một đêm đi ăn…
*
* *
Lần thứ hai vào hang, Tâm phát hiện một bí mật ghê gớm hơn nhiều. Trong hang có người.
Không phải người thường. Mà là một nhà sư ngồi trong thế kiết già. Ngồi như thế không biết đã bao lâu, trong một ngách hang tối om.
Sỡ dĩ lần trước Tâm không nhìn thấy là vì nó không mang theo đèn pin.
Tâm run run lại gần. Nó muốn xem chắc là người hay là ma. Thật khó để nói đây là người, vì chỉ có xương với da. Hai mắt lõm sâu. Rồi không biết là chết hay còn sống, Tâm lấy tay khẽ đụng vào.
Hai con mắt mở to nhìn Tâm. Phải, chỉ có hai con mắt là có sự sống.
Họ cứ nhìn trân trân vào nhau. Cuối cùng sợ quá Tâm quỳ xuống, nói, “Xin ngài tha cho. Tôi không cố ý”.
“Cho… ta… ăn… với”.
“Dạ xin ngài tha cho. Xin ngài đừng ăn thịt tôi”, Tâm mếu máo.
“Sữa… mang sữa… cho ta”.
“Ngài uống sữa à? Được, để tôi xuống núi”.
Chiều hôm đó, Tâm mang sữa tươi, chuối, xoài và một nồi cháo lên cho nhà sư. Ông ta ăn hết những thứ đó.
“Ngài thành chánh quả chưa?” Tâm hỏi, vui mừng vì thấy thịt da ông ta đã bắt đầu có sắc.
“Chưa. Coi cách ta ăn thì biết”.
“Có phải tại tôi không?”
“Chính cậu đã cứu ta”.
“Tôi, cứu ngài?”
“Phải, ta mắc nợ ngươi. Bây giờ ta phải ra khỏi hang”.
“À, tôi muốn hỏi ngài. Cái hang này có mấy cửa?”
“Hai, một sinh và một tử. Cửa lớn là cửa tử, vì nó có gài mìn. Đó là mìn hồi chiến tranh còn sót lại”.
“Ồ, tôi thật may mắn. Lần trước tôi vào đây bằng cửa lớn mà chẳng sao cả”, Tâm bàng hoàng.
Lúc dìu nhà sư ra khỏi hang và xuống núi, Tâm suy nghĩ rất lung. Nó nhớ lại cái câu đọc được dưới gầm cầu treo. Hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống. Ý nghĩ đó nhắc nó nhớ đến chị Bảy. Nó bảo nhà sư chờ tí, cho nó hái mấy trái bồ kết.
Lúc chia tay ở chân núi, nhà sư, tự xưng là Thiện Đạo, nói Tâm cứ đến chùa làng sẽ gặp được ông. Tâm bảo dạ. Nó nhìn ông một lần nữa, thấy ông đã đủ khỏe khoắn để đi về chùa, còn cách xa chừng một cây số. Còn Tâm chạy về phía cầu treo, chùm bồ kết trong tay, miệng ngân nga một khúc hát, do nó sáng tác:
Mẹ cười lên nhé
Con khóc thật thà
Một vòng tay đó
Mẹ là bao la
*
* *
Rằm tháng đó, Tâm xin cha cho nghỉ một buổi đi chùa.
“Ờ mày ráng tu luôn phần của tao nhé!” Cha nó nói, nửa đùa nửa thật. Ông Tư không bỏ được rượu. Cứ khi chiều xuống là ông lại lai rai một mình, một chai đế và vài con tép rang, với mặt trời chìm xuống sau lưng trên cánh đồng trũng mênh mông.
Tâm gặp thầy Thiện Đạo ngoài sân. Mới nửa tháng mà trông thầy khác hẳn. Thầy hồng hào hẳn ra. Dưới hai cái chưn mày xếch, đôi mắt tươi vui nhìn Tâm.
“Tâm đó hả? Lại đây phụ thầy một tay!”
Thầy Thiện Đạo đang nhổ cây bạch đàn con cho vào túi ni lông.
“Phụ thầy với! Xúc đất vào cho thầy”.
Tâm ngồi xuống, cầm cái bay làm theo lời thầy. Nắng chiều xiên qua cổng tam quan, chia tấm áo nâu của thầy ra làm hai nửa đậm nhạt.
Khi Tâm cho đầy đất vào bao, thầy lắc và nện cho chặt đất rồi xếp qua một bên.
“Mai có rảnh nữa không, đi trồng cây với thầy”, thầy Đạo nói.
“Dạ sáng mai chủ nhật không có học, nhưng con phải xin cha”.
“Xã cấp đất cho thầy rồi. Miếng đất xung quanh cái hang của mình đó”.
À! Cái hang!
“Họ gỡ mìn chưa?” Tâm hỏi.
“Rồi. Họ nói thầy có công phát hiện di tích, nên tặng thầy miếng đất đó”.
“Nhưng thầy tu mà, trồng cây làm gì?”
“Thầy muốn một ngôi chùa riêng. Việc đầu tiên là phải có đất. Việc thứ hai là một nguồn mạch tâm linh. Cái hang của mình, xưa từng có một vị cao tăng tu ở đó, nhưng bị Pháp giết hại”.
Tâm thích nghe thầy nói mấy chữ “cái hang của mình” làm sao. Nhưng nếu thầy nói tiếp “cái chùa của mình” thì nó hơi ớn!
Thầy Đạo nói tiếp về những kế hoạch năm năm. Trồng cây bạch đàn bán gỗ, rồi thầy sẽ có tiền trồng cây khác quý hơn. Thầy muốn trồng trầm. Thầy nói chỗ của mình khí núi có thể cho trầm. Nếu trời thương, thầy sẽ có tiền xây một bảo tháp cho vị cao tăng xấu số ngày trước. Thầy cũng sẽ làm một tượng Quan Thế Âm. Nếu bá tánh thương, họ sẽ giúp thầy xây một ngôi chùa.
Rồi thầy nhìn Tâm rất là trìu mến, “Nếu Phật bà thương, thầy sẽ còn có một đệ tử ruột”.
Ông Tư cha nó chưa bao giờ nói với nó theo cách như vậy. Luýnh quýnh thế nào mà nó làm đất đổ hết ra ngoài bao. Thầy Đạo nhìn ra phía cổng tam quan. Chú tiểu quét sân đã dừng tay. Trên cái nền sân sạch sẽ, một cánh hoa sứ vừa rụng xuống, trắng muốt.
*
* *
Chị Bảy ngồi đọc bài văn tả mẹ của Tâm. Hôm qua làm xong Tâm nhờ chị sửa. Tâm nói dạo này điểm văn kém quá, sợ cha la.
Mẹ em thường gội đầu vào lúc hoàng hôn. Trong màu vàng nhạt của nắng chiều, màu vàng hổ phách của nước bồ kết trông thật đẹp. Rồi tóc mẹ buông xuống như một thác nước. Có ai biết phía sau thác nước đó là một bí mật. Sau thác nước, là một hang động tối om. Trong đó, một người đàn ông ngồi bất động, như đã ngồi như thế từ xưa xửa xừa xưa. Ông ta là người của Tuyệt Tình Cốc.
Chị Bảy không biết phải sửa sao cả. Chị ngồi chống cằm, nhìn ra xa. Cò từng đàn bay về tổ. Bất giác chị cắn móng tay.
Rồi chị quay vào bếp, bắc nước đun bồ kết. Hôm nay chị sẽ lại gội đầu bằng nước bồ kết. Chị phải tìm lại cái trong trẻo ngày xưa.
Một cậu bé mồ côi đang cần đến nó.
