2011 năm của hoài nghi và hy vọng
Thế giới chuẩn bị bước vào một năm mới - thời điểm giao thời cũng là lúc thích hợp để nhìn lại 365 ngày qua - với những cung bậc thăng trầm của một năm đầy biến động, rối ren và những sự được - mất. Không sai khi nói rằng năm 2011 - năm tốt đẹp và cũng là năm tồi tệ; năm của hoài nghi và cũng là năm của niềm tin.
Đối với nhiều nước Trung Đông và Bắc Phi, 2011 là năm của niềm tin mạnh mẽ. Làn sóng biểu tình của người dân đã đưa đến những biến động chính trị quan trọng. Những cái tên một thời vang lên đầy uy quyền như Muammar Gaddafi và Hosni Mubarak đã chỉ còn là lịch sử, để lại đằng sau những đất nước tan hoang đang chờ được hồi sinh và tái thiết, những người dân đang háo hức đón chờ cuộc sống mới xen lẫn những hoài nghi và hy vọng.
Sau thời kỳ rối ren nghiêm trọng, các nước Ảrập đã tiến hành cải cách. Các cuộc bầu cử quốc hội đã được tổ chức ở Tunisia, Morocco và Ai Cập, và các chính phủ lâm thời đã được thành lập ở Lybia, Ai Cập và Yemen. Nhiều nước trong số này đã phải đối mặt với sự phát triển trì trệ trong những năm gần đây. Vì vậy, thời kỳ rối ren vừa qua đã mang lại những thay đổi và tạo cơ hội cho sự phát triển. Bằng cách tái cơ cấu nền kinh tế và giảm sự bất bình đẳng xã hội, các nước này có thể sẽ chứng kiến sự tăng trưởng bền vững, đạt sự ổn định xã hội và chính trị.
Trong khi đó, “Mô hình châu Âu” từng một thời được ngưỡng mộ, đang mất dần đi ánh hào quang. Mảnh đất của hy vọng và thịnh vượng xưa kia, nay bao trùm bởi không khí hoài nghi và lo sợ. Bắt đầu từ những nước “ngoại biên” như Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha, cuộc khủng hoảng này cuối cùng lan sang các nền kinh tế lớn của châu Âu như Pháp, Đức và đang lấy dần đi của châu Âu sức sống. Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công trầm trọng, các nước bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng nợ công đã phải cậy nhờ đến các gói cứu trợ từ bên ngoài, đồng thời áp dụng các biện pháp “thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên, những biệp pháp này được cho là nguyên nhân gây ra hàng loạt bất ổn xã hội ở châu Âu, từ các cuộc biểu tình vào mùa xuân ở Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, tới bất ổn hồi giữa mùa hè ở Anh và Đức, và các cuộc biểu tình rầm rộ vào đầu mùa đông tại Bỉ và Anh. Bất ổn xã hội tại khu vực này cũng cho thấy rạn nứt giữa thực trạng kinh tế và các dịch vụ xã hội trong hệ thống phúc lợi của châu Âu. Ngoài gánh nặng phúc lợi, khả năng cạnh tranh của nhiều nước bị giảm sút là nguyên nhân làm giảm động lực tối cần thiết cho sự phục hồi kinh tế và dẫn tới các cuộc khủng hoảng nợ và bất ổn xã hội trong khu vực.
Ở bên kia bờ Đại Tây Dương, Mỹ cũng chẳng khá hơn. Với gánh nặng nợ nần chồng chất và tỷ lệ thất nghiệp cao, chính phủ Mỹ đứng bên bờ vực phá sản và những tranh cãi chính trị giữa đảng Dân chủ và Cộng hòa. Phong trào “Chiếm Phố Wall” tượng trưng cho nỗi tuyệt vọng sâu sắc của người dân Mỹ trong “thời kỳ vàng son mới”. Trong tiểu thuyết trào phúng “Thời kỳ Vàng son” (năm 1873), nhà văn Mark Twain đã mô tả một xã hội có bề ngoài hào nhoáng, nhưng thực chất bên trong lại đang bị tàn phá nặng nề bởi nghèo đói và nạn thất nghiệp. Mỹ dường như đang bước vào một thời kỳ vàng son mới trong khi khoảng cách giàu nghèo ngày một gia tăng, với điểm khác có chăng là những ông trùm dầu mỏ và thép thuộc tầng lớp chóp bu trong xã hội hư cấu ấy được thay thế bằng các ông trùm tài chính và những nhà quản lý quỹ đầu tư hợp tác.
Trái với phương Tây, các nền kinh tế mới nổi đang chiếu rọi tia sáng hy vọng. Với việc kết nạp Nam Phi hồi tháng 4.2011, các nước thành viên khối BRICS (gồm Brazil, Nga, âËn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) tổng cộng chiếm 43% dân số thế giới và có tổng cộng 4.300 tỷ USD dự trữ ngoại hối. BRICS đang tái định hình bức tranh kinh tế thế giới, mang lại niềm hy vọng và sinh lực mới.
Năm 2011, kinh tế Trung Quốc dự đoán tăng 9%, Ấn Độ tăng 8%, Nga 4% trong khi Brazil, Nam Phi và Chile cũng đang đạt được những bước tiến bộ đáng kể. Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các nền kinh tế mới nổi được dự đoán là sẽ đạt mức tăng trưởng trung bình là 6,4%, so với mức 1,6% của các nước phát triển. Các nước đang phát triển đang chiếm phần ngày càng lớn trong “miếng bánh” kinh tế thế giới.
Paul Kennedy, một nhà sử học học Đại học Yale, tác giả của cuốn Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc cho rằng, thế giới đang trong quá trình chuyển giao quan trọng trong lịch sử, có thể đánh dấu sự kết thúc của một thời đại.
Rất nhanh chóng, Mỹ đã nắm bắt tình hình thực tế này và điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng chú trọng tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương vì các lợi ích kinh tế và chiến lược quân sự lâu dài. Trên phương diện kinh tế, chính quyền của Tổng thống Barack Obama muốn tái cân bằng lại tăng trưởng kinh tế của đất nước, vốn dựa quá nhiều vào tiêu thụ nội địa trong khi xuất khẩu lại quá yếu đã tạo ra một khối nợ khổng lồ. Do đó, từ đây cho đến năm 2015, Mỹ muốn tăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ mang nhãn hiệu “Made in USA” sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mảng chiến lược thứ hai của Mỹ là quân sự. Bên cạnh những thỏa thuận quốc phòng với các đồng minh truyền thống (Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines), Mỹ sẽ triển khai thêm quân tại Australia và sẽ sở hữu thêm nhiều cảng cho các chiến hạm của mình tại Singapore.
Bức tranh toàn cảnh thế giới năm 2011 thực sự là những gam màu nóng với các điểm nhấn đa dạng tại nhiều khu vực trên thế giới. Dường như thế giới đang dần mất đi những thời khắc bình yên nhưng không vì thế mà kém phần hào hứng khi đón chào một năm mới với những niềm hy vọng mới.