Đầu tư cho miền núi, vùng dân tộc thiểu số cần có trọng điểm
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn về xoá đói giảm nghèo, phát triển KT – XH đối với miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Các chính sách đã thực sự góp phần thúc đẩy KT – XH phát triển, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại tình trạng là đầu tư cho khu vực này còn mang tính chất dàn trải, manh mún, thiếu đồng bộ. Trong tương lai, để nâng cao hiệu quả của các chính sách này thì vấn đề đầu tư cho miền núi, vùng dân tộc thiểu số cần có trọng điểm.
Chính sách bước đầu giúp người dân giảm nghèo
Miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam chiếm ¾ diện tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn có ý nghĩa quan trọng về KT – XH, đặc biệt là an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái. Với dân số khoảng 25 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số trên 13 triệu người. Đây cũng là vùng được đánh giá là có nhiều tiềm năng thế mạnh. Hiện nay, đã có nhiều chính sách đang được thực hiện, với nhiều chương trình, dự án khác nhau. Nhà nước cũng đã tập trung ưu tiên phát triển KT – XH cho vùng này. Nguồn tài chính đầu tư cho miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn từ 2006 – 2010 rất lớn, bao gồm từ đầu tư ngân sách nhà nước, các tổ chức quốc tế tài trợ, sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, thông qua các chương trình 134,135, 30a… và nhiều chương trình lồng ghép khác đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà nhiệm vụ trung tâm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp chế biến, bước đầu đã có tác dụng thay đổi tư duy và nhất là tư duy kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo nhận định của Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc Mã Điền Cư thì hiện nay, thu nhập của nhiều nơi và nhiều hộ đồng bào dân tộc đã được cải thiện từng bước. Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi theo hướng tích cực. Một số hộ nông dân người dân tộc thiểu số đã vươn lên để sản xuất có thu nhập khá, và giàu. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, tình trạng du canh du cư được hạn chế. Cơ sở hạ tầng vùng dân tộc thiểu số, nhất là vùng đặc biệt khó khăn đã được tăng cường đầu tư đáng kể. Đến nay, đã có hơn 90% số xã có điện lưới quốc gia và đường ô tô đến trung tâm xã…
Nhưng hiệu quả đầu tư chưa cao
Không thể phủ định rằng việc thực hiện chính sách dân tộc đã bước đầu thu được kết quả nhất định song vẫn bộc lộ một số hạn chế thiếu sót. Sau khi chương trình đã được triển khai nhìn chung, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn thấp. Ở vùng sâu, vùng xa, nhiều đồng bào còn rất khó khăn. Một số nhu cầu thiết yếu của đời sống như nước sinh hoạt, nhà ở, điện thắp sáng, đường giao thông, trường, trạm chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhà nước mặc dù đã đầu tư một khoản ngân sách khá lớn vào các chương trình, dự án ở các vùng song hiệu quả chưa đạt như mục tiêu đề ra. Mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số còn chậm so với yêu cầu phát triển chung… Hệ thống trường dân tộc nội trú cũng như chế độ ưu tiên con em các dân tộc thiểu số chất lượng và hiệu qủa đào tạo chưa cao. Theo Phó trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Hà Giang Triệu Là Pham thì hiện nay các chính sách đối với miền núi và vùng dân tộc thiểu số chưa thực sự gắn với vấn đề văn hoá và giữ gìn bản sắc dân tộc. Hiện nay cũng đang tồn tại một thực tế là các chương trình, dự án đầu tư còn manh mún, dàn trải trong khi nguồn lực đầu tư của nhà nước có hạn. Trên cùng một địa bàn có nhiều dự án đầu tư với đối tượng, mục tiêu giống nhau nên đã xảy ra tình trạng chồng chéo, lãng phí, không hiệu quả, việc đầu tư cho vùng này được nhiều cơ quan, đơn vị thực hiện không thống nhất và đồng bộ, đôi khi trái ngược nhau nên không lồng ghép, khó quản lý và theo dõi.
Cần có chính sách đầu tư trọng điểm
Nhận định về chính sách đầu tư dành cho miền núi và vùng dân tộc thiểu số Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc, Uỷ ban Dân tộc Trịnh Công Khanh cho rằng nguồn lực đầu tư để thực hiện chính sách còn dàn trải, chưa tập trung, định mức vốn của các chương trình, chính sách chưa đủ lớn để thúc đẩy nhanh sự phát triển KT – XH tại các địa phương khu vực dân tộc và miền núi, vốn cấp hàng năm để thực hiện một số chính sách chưa đủ theo quy định, một số chính sách mặc dù đã được ban hành nhưng không được cấp vốn để thực hiện; chưa lồng ghép các chính sách thực hiện trên cùng địa bàn. Hệ thống chính sách còn có mục tiêu nội dung chồng chéo, trùng lắp tên cùng một địa bàn (xã, bản, thôn). Đặc biệt còn có nhiều chính sách cùng thực hiện với nhiều đầu mối quản lý. Từ những hạn chế đó, bài toán đặt ra là cần phải có sự đầu tư có trọng điểm trong việc triển khai chương trình và cần quy về một đầu mối quản lý. Có như vậy mới nâng cao được trách nhiệm quản lý, và hiệu quả đầu tư.
Giảm nghèo đối với miền núi và vùng dân tộc thiểu số nhằm tiến tới kéo gần khoảng cách của miền núi với vùng nông thôn khác đang là mục tiêu của tất cả chúng ta. Chính sách đã có, tuy nhiên triển khai như thế nào cho hiệu quả rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong đó cần phải đặt đối tượng trung tâm là đồng bào miền núi, vùng dân tộc thiểu số chứ không phải là lợi ích ngành, cơ quan đầu tư.