ĐBQH Đinh Thị Phương Lan (Quảng Ngãi): Lỗi hệ thống

Nguyễn Vũ ghi 17/11/2011 07:33

Theo Báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2006 chi phí của một sinh viên là 723 USD, nhưng đến nay thì phải huy động từ 1.000 -1.500 USD. Có nghĩa là: nếu thu nhập trung bình của một người dân là 1.000 USD thì một gia đình có 2 con đi học phải dành toàn bộ thu nhập để cho con đi học; nếu hộ nghèo, dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo, hoặc các gia đình chính sách có con đi học thì thường phải vay từ 40% chi phí trở lên để chi trả.

Tuy nhiên, sau khoảng 4 - 5 năm đại học, thậm chí là 6 - 7 năm học đại học ra trường thì thường không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không đúng ngành nghề, phải đào tạo lại. Khi tiếp xúc với cử tri, nghe cử tri phản ánh, chúng ta không thể không suy ngẫm về trách nhiệm của những người quản lý, hoạch định chính sách giáo dục đào tạo, trong đó có giáo dục đại học.

Nguyên nhân căn bản của thực trạng nêu trên, theo tôi xuất phát từ lỗi hệ thống. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tháng 7.2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý trực tiếp 54 trường đại học, cao đẳng trong tổng số 369 trường, chiếm khoảng 14,6%. Trong điều kiện như vậy thì chất lượng giáo dục, điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực tạo ra có phù hợp với nhu cầu xã hội hay không? Điều này thực khó kiểm soát, khó xây dựng chiến lược, quy hoạch hoàn thiện trong điều kiện nguồn lực giáo dục đại học, đào tạo bị quản lý thiếu hệ thống, chồng chéo về chức năng giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp, địa phương. Hậu quả là một bộ phận các cơ sở giáo dục đào tạo, trong đó có giáo dục đại học, phát triển thiếu định hướng, nguồn lực bị phân tán, sử dụng khai thác chưa hiệu quả, chi phí quản lý hành chính tăng; giáo dục - đào tạo, trong đó có giáo dục đại học, khó hội nhập trong điều kiện tính chuyên môn hóa trong quản lý nguồn lực chưa cao. Hệ lụy là lãng phí của xã hội rất lớn. Trong điều kiện như thế, dự thảo Luật quy định một số nội dung phân cấp một bước nữa cho các cơ sở giáo dục đại học. Đây là xu thế tất yếu, tuy nhiên trong điều kiện hệ thống giáo dục đại học chưa ổn định, nếu không nói là kiểm soát chưa tốt, chất lượng chưa đồng đều, thông tin chưa minh bạch, mặt bằng dân trí thấp thì rủi ro là chọn ngành nghề không phù hợp, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu cao.

Dự thảo Luật quy định nhiều điều, khoản cần phải cân nhắc kỹ hơn. Đó là chỉ tiêu tuyển sinh được xác định trên các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội quy định tại Khoản 1, Điều 30 chưa rõ; cơ sở giáo dục kể cả tư thục được mở ngành đào tạo tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh, tự chọn phương thức tuyển sinh, tự chọn kiểm định, tự công khai chất lượng kiểm định. Với tinh thần phân cấp toàn diện trên các cơ sở giáo dục đại học như trong dự thảo, kiểm định chất lượng là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu nhưng chưa được quy định mạch lạc, khó tránh khỏi sự mập mờ trong quản lý chất lượng. Tâm lý chỉ thích học đại học, không thích học nghề sẽ hút học sinh, sinh viên vào đại học, thay vì chọn học nghề với nhu cầu lao động phải qua đào tạo lên đến 60 - 70% tập trung vào đại học. Nguy cơ mục tiêu phân luồng trong giáo dục đào tạo bị phá vỡ. Ban soạn thảo có giải trình, nhưng tôi cho là cần có báo cáo đánh giá cụ thể hơn. Đã giao quyền tự chịu trách nhiệm cho Đại học Quốc gia, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng nhưng còn khoảng gần 400 trường đại học, cao đẳng, trường tư thục sẽ thành lập sau khi luật ra đời - Ban soạn thảo chưa đánh giá nội dung này. Nếu thiếu kiểm soát, kiểm định minh bạch, thông tin không tốt, không có lộ trình rõ ràng thì sẽ dẫn đến tình trạng tự quản trong hệ thống giáo dục. Nếu tự kiểm trong các cơ sở giáo dục đại học chưa tốt, bộ, ngành chủ quản đang đẩy dần trách nhiệm quản lý chất lượng về xã hội mà thiếu các cam kết rõ ràng.

Dự thảo Luật Giáo dục đại học được xây dựng trong điều kiện nhu cầu lao động chưa qua đào tạo cao và mở rộng hệ thống giáo dục đại học trong điều kiện giáo dục mầm non thiếu nguồn lực, chất lượng giáo dục phổ thông còn nhiều vấn đề tồn tại. Nếu định hướng nhu cầu xã hội bằng các chính sách, điều luật cụ thể mà chưa rõ ràng và không có những đánh giá cụ thể hơn thì tôi thấy chưa thật sự yên tâm. Như vậy, giáo dục đại học sẽ khó phát triển bền vững.

Nguyễn Vũ ghi