Chúng ta có muốn giáo dục đại học được tự chủ không?
Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội là thuộc tính cơ bản của trường đại học. Điều này phải được coi là tư tưởng xuyên suốt của dự án Luật Giáo dục đại học. Song, theo nhiều ĐBQH thì tư tưởng xuyên suốt này chưa được giải quyết thấu đáo trong dự thảo Luật. Nếu đọc sơ qua sẽ thấy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học được quy định rất hay, nhưng cuối cùng bao giờ cũng thắt lại bằng việc giao Bộ trưởng quyết định hoặc Thủ tướng quy định. Chỉ rõ đây chính là cơ chế xin – cho quyền tự chủ, vấn đề khá phổ biến của giáo dục đại học hiện nay, một số ĐBQH đặt câu hỏi: thực sự chúng ta có muốn giáo dục đại học được tự chủ hay không?
ĐBQH Đinh Thị Phương Lan (Quảng Ngãi): Lỗi hệ thống
Theo Báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2006 chi phí của một sinh viên là 723 USD, nhưng đến nay thì phải huy động từ 1.000 -1.500 USD. Có nghĩa là: nếu thu nhập trung bình của một người dân là 1.000 USD thì một gia đình có 2 con đi học phải dành toàn bộ thu nhập để cho con đi học; nếu hộ nghèo, dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo, hoặc các gia đình chính sách có con đi học thì thường phải vay từ 40% chi phí trở lên để chi trả. Tuy nhiên, sau khoảng 4 - 5 năm đại học, thậm chí là 6 - 7 năm học đại học ra trường thì thường không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không đúng ngành nghề, phải đào tạo lại. Khi tiếp xúc với cử tri, nghe cử tri phản ánh, chúng ta không thể không suy ngẫm về trách nhiệm của những người quản lý, hoạch định chính sách giáo dục đào tạo, trong đó có giáo dục đại học.
Nguyên nhân căn bản của thực trạng nêu trên, theo tôi xuất phát từ lỗi hệ thống. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tháng 7.2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý trực tiếp 54 trường đại học, cao đẳng trong tổng số 369 trường, chiếm khoảng 14,6%. Trong điều kiện như vậy thì chất lượng giáo dục, điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực tạo ra có phù hợp với nhu cầu xã hội hay không? Điều này thực khó kiểm soát, khó xây dựng chiến lược, quy hoạch hoàn thiện trong điều kiện nguồn lực giáo dục đại học, đào tạo bị quản lý thiếu hệ thống, chồng chéo về chức năng giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp, địa phương. Hậu quả là một bộ phận các cơ sở giáo dục đào tạo, trong đó có giáo dục đại học, phát triển thiếu định hướng, nguồn lực bị phân tán, sử dụng khai thác chưa hiệu quả, chi phí quản lý hành chính tăng; giáo dục - đào tạo, trong đó có giáo dục đại học, khó hội nhập trong điều kiện tính chuyên môn hóa trong quản lý nguồn lực chưa cao. Hệ lụy là lãng phí của xã hội rất lớn. Trong điều kiện như thế, dự thảo Luật quy định một số nội dung phân cấp một bước nữa cho các cơ sở giáo dục đại học. Đây là xu thế tất yếu, tuy nhiên trong điều kiện hệ thống giáo dục đại học chưa ổn định, nếu không nói là kiểm soát chưa tốt, chất lượng chưa đồng đều, thông tin chưa minh bạch, mặt bằng dân trí thấp thì rủi ro là chọn ngành nghề không phù hợp, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu cao.
Dự thảo Luật quy định nhiều điều, khoản cần phải cân nhắc kỹ hơn. Đó là chỉ tiêu tuyển sinh được xác định trên các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội quy định tại Khoản 1, Điều 30 chưa rõ; cơ sở giáo dục kể cả tư thục được mở ngành đào tạo tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh, tự chọn phương thức tuyển sinh, tự chọn kiểm định, tự công khai chất lượng kiểm định. Với tinh thần phân cấp toàn diện trên các cơ sở giáo dục đại học như trong dự thảo, kiểm định chất lượng là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu nhưng chưa được quy định mạch lạc, khó tránh khỏi sự mập mờ trong quản lý chất lượng. Tâm lý chỉ thích học đại học, không thích học nghề sẽ hút học sinh, sinh viên vào đại học, thay vì chọn học nghề với nhu cầu lao động phải qua đào tạo lên đến 60 - 70% tập trung vào đại học. Nguy cơ mục tiêu phân luồng trong giáo dục đào tạo bị phá vỡ. Ban soạn thảo có giải trình, nhưng tôi cho là cần có báo cáo đánh giá cụ thể hơn. Đã giao quyền tự chịu trách nhiệm cho Đại học Quốc gia, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng nhưng còn khoảng gần 400 trường đại học, cao đẳng, trường tư thục sẽ thành lập sau khi luật ra đời - Ban soạn thảo chưa đánh giá nội dung này. Nếu thiếu kiểm soát, kiểm định minh bạch, thông tin không tốt, không có lộ trình rõ ràng thì sẽ dẫn đến tình trạng tự quản trong hệ thống giáo dục. Nếu tự kiểm trong các cơ sở giáo dục đại học chưa tốt, bộ, ngành chủ quản đang đẩy dần trách nhiệm quản lý chất lượng về xã hội mà thiếu các cam kết rõ ràng.
Dự thảo Luật Giáo dục đại học được xây dựng trong điều kiện nhu cầu lao động chưa qua đào tạo cao và mở rộng hệ thống giáo dục đại học trong điều kiện giáo dục mầm non thiếu nguồn lực, chất lượng giáo dục phổ thông còn nhiều vấn đề tồn tại. Nếu định hướng nhu cầu xã hội bằng các chính sách, điều luật cụ thể mà chưa rõ ràng và không có những đánh giá cụ thể hơn thì tôi thấy chưa thật sự yên tâm. Như vậy, giáo dục đại học sẽ khó phát triển bền vững.
ĐBQH Trần Minh Diệu (Quảng Bình): Có chế tài đủ mạnh để chấm dứt việc mở trường, mở ngành không hợp lý
Khoản 1, Điều 9 dự thảo Luật quy định quy hoạch mạng lưới giáo dục đại học là sự phân bố sắp xếp hệ thống các trường đại học, học viện, đại học, đại học quốc gia với cơ cấu ngành nghề phù hợp với quy mô dân số, địa lý, sự phát triển về KT-XH, quốc phòng, an ninh của đất nước. Theo tôi hiểu đây mới chỉ là khái niệm về quy hoạch với sự liệt kê tên gọi của các loại cơ sở giáo dục đại học mà lại đang cần phải thêm vào đó là những quy định của pháp luật về quy mô và hệ thống mạng lưới của giáo dục đại học. Dự án Luật không thể quy định chi tiết, cụ thể mạng lưới giáo dục đại học nhưng phải thể chế hóa được các chủ trương của Đảng và Nhà nước bằng quy định của pháp luật. Cương lĩnh của Đảng năm 2011 xác định phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà. Muốn vậy phải tiến hành đồng thời rất nhiều việc, nhưng không thể không bắt đầu từ đổi mới công tác quy hoạch. Đề nghị Ban soạn thảo tập trung khảo sát, thu thập ý kiến để bổ sung nội dung theo hướng quy hoạch là nền tảng định hướng cho sự phát triển không chỉ trước mắt mà còn cho chiến lược phát triển lâu dài của giáo dục đại học. Làm sao để khi luật được ban hành thì xã hội có thể hình dung được quy mô mạng lưới giáo dục đại học tới đây sẽ như thế nào? Mở rộng hay thu hẹp? Tăng hay giảm, loại trường nào sẽ tăng, loại trường nào sẽ giảm? Nếu làm tốt công tác quy hoạch chúng ta sẽ thể hiện được định hướng và nguyên tắc phân tầng giáo dục đại học ngay trong quy hoạch. Theo đó luật phải có những chế tài đủ mạnh để sắp xếp lại hệ thống mạng lưới giáo dục đại học, chấm dứt việc mở trường, mở ngành không hợp lý như thời gian vừa qua nhằm đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng, đáp ứng và phù hợp với quá trình đổi mới của đất nước.
Dự án Luật cần thể hiện quyết tâm hơn nữa trong việc đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các cơ sở. Quản lý nhà nước nên tập trung vào việc hoạch định chính sách và trực tiếp thực hiện những việc mà các cơ sở giáo dục đại học không thể làm được như quy hoạch, kế hoạch của giáo dục đại học, quy chế thi cử, điều kiện tuyển sinh, kiểm soát chất lượng tối thiểu của đầu vào, thanh tra, kiểm soát chất lượng trong quá trình đào tạo, kiểm định và xác nhận chất lượng đầu ra... Cần hạn chế việc giao Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện các quy định của luật để luật khi được ban hành sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, đồng thời góp phần tháo gỡ được những rào cản không đáng có trong cơ chế quản lý điều hành.
ĐBQH Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng): Tổ chức đại học theo hai cấp có đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện ngành giáo dục không? – câu hỏi này mong được Ban soạn thảo giải trình trước QH
Khoản 1, Điều 7, dự thảo Luật Giáo dục đại học quy định cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học quốc gia. Tôi thấy quy định như vậy chưa hợp lý vì trường cao đẳng, trường đại học, học viện là những nơi trực tiếp đào tạo, giảng dạy cho người học. Trong khi đó, đại học quốc gia lại là bộ máy quản lý các trường đại học, cao đẳng của một vùng hay một khu vực có chức năng, nhiệm vụ rất khác nhau. Do đó, tôi đề nghị Ban soạn thảo xem xét lại quy định này nhằm bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ đánh giá hoạt động của các trường Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Tây Nguyên còn nhiều bất cập, vừa không phát huy được năng lực, thế mạnh của từng trường vừa làm triệt tiêu sức mạnh tổng hợp của cả đại học. Thế nhưng, dự thảo Luật vẫn duy trì hình thức tổ chức đại học theo 2 cấp? Quy định như vậy có đáp ứng được yêu cầu đổi mới sâu sắc, toàn diện và triệt để ngành giáo dục như tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI không? Câu hỏi này mong được Ban soạn thảo giải trình trước QH.
Đối với việc thành lập Hội đồng trường, một cán bộ hưu trí cao cấp của Nhà nước tâm huyết với ngành giáo dục đã ví rằng: một trường đại học muốn theo cơ chế tự chủ mà không có Hội đồng trường, chỉ có bộ máy điều hành của hiệu trưởng thì cũng giống như một quốc gia muốn theo chế độ dân chủ mà chỉ có Chính phủ chứ không có QH. Nói như vậy, để thấy tầm quan trọng của Hội đồng trường. Tuy nhiên, thực tế vừa qua chỉ có 10/168 trường đại học thành lập Hội đồng trường, nhưng hoạt động rất lúng túng về nội dung, phương pháp, năng lực và hình thức. Vấn đề ở chỗ: cơ quan chủ trì soạn thảo đã thấy rõ sự bất cập trong hoạt động của Hội đồng trường nhưng vì sao Ban soạn thảo không tập trung nghiên cứu xây dựng chế định này theo hướng khắc phục tất cả những tồn tại, hạn chế hiện nay mà chỉ ghi một điều rất đơn giản (Điều 14) là giao cho Chính phủ quy định?
Để bảo đảm tính khả thi của Luật, đề nghị Ban soạn thảo tập trung nghiên cứu xây dựng Luật Giáo dục đại học thật chi tiết, cụ thể, giải quyết có hiệu quả những vấn đề cơ bản đặt ra trong thực tiễn nhằm sớm đưa giáo dục đại học nước ta sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới.
ĐBQH Lê Văn Học (Lâm Đồng): Các trường phải đi xin quyền tự chủ là không ổn
Luật Giáo dục đại học không phải là luật khung, cho nên cần phải chi tiết, cụ thể hơn để sau khi Luật có hiệu lực sẽ áp dụng được luôn một số các điều khoản, chứ không nhất thiết phải chờ Nghị định.
Chúng ta không hy vọng trong Luật Giáo dục đại học lần này giải quyết được tất cả những vấn đề bức xúc đang đặt ra, nhưng cũng phải giải quyết được một số điểm cơ bản để phù hợp với tình hình chung. Đó là các vấn đề về: tuyển sinh, tự chủ, tên gọi, loại hình, học phí, các khoản thu khác, chất lượng kiểm định, Hội đồng trường; lợi nhuận, phi lợi nhuận trong các trường tư thục; chế độ, chính sách đối với giảng viên; quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học...
Hiện nay, thống kê cả nước có khoảng 450 cơ sở giáo dục đại học, nhưng thực ra chỉ có xấp xỉ 200 trường đúng tên là đại học, còn lại là trường cao đẳng. Số lượng cơ sở giáo dục đại học như vậy không phải là nhiều, nhưng rõ ràng tất cả văn bản quy phạm pháp luật chưa nêu rõ vấn đề phân tầng, từ tên gọi, tư cách pháp nhân đến địa vị pháp lý. Thực ra, tất cả mọi người dân cũng như các ĐBQH chúng ta đều hiểu trường nào ở Việt Nam nằm ở top trên, có chất lượng đào tạo tốt, quản lý tốt và uy tín, được thành lập cách đây 100 năm hay 50 - 60 năm. Còn trường nào mới thành lập thì chất lượng đào tạo chưa bảo đảm, chưa phục vụ tốt cho phát triển kinh tế - xã hội và uy tín chưa cao. Nhưng vấn đề là phải liệt kê và phải có những tiêu chí để xác định nhằm minh bạch hóa, công khai hóa danh sách các trường này. Nếu không thì thỉnh thoảng Chính phủ lại ra quyết định trường A là trường trọng điểm, trường B là trường trọng điểm nhưng không hiểu tiêu chí của những trường này ra làm sao? Đây là vấn đề cần làm rõ.
Dự thảo Luật nêu coi tự chủ đại học là tư tưởng xuyên suốt của Luật. Nhưng tôi thấy trong dự thảo Luật lần này nêu chủ yếu bằng nguyên tắc: tự chủ trên 6 lĩnh vực, tôi hoàn toàn đồng ý là ở trong luật nêu rõ, nhưng nguyên tắc để giao quyền tự chủ thì dựa vào 4 nguyên tắc, rất khó thực hiện Ví dụ quy định về vị trí, nhiệm vụ của trường hay năng lực thực hiện như dự thảo Luật là được. Trường nào có năng lực thì thực hiện quyền tự chủ, trường nào sẵn sàng cam kết thì thực hiện quyền tự chủ. Nhưng lại nêu nguyên tắc dựa vào kết quả kiểm định chất lượng bắt buộc 450 trường thì làm bao giờ mới xong? Đọc dự thảo Luật, tôi thấy không có tiến bộ gì so với thực tế. Dự thảo Luật quy định giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ban, ngành khác để quy định cụ thể về điều kiện được tự chủ, mức độ tự chủ, thu hồi quyền tự chủ khi bị vi phạm - việc này chính là cơ chế xin, cho quyền tự chủ. Các trường đi xin quyền tự chủ như thế là không ổn.
Theo tôi, trong dự thảo Luật cần giao cho các cơ quan quản lý nhà nước sớm ban hành các tiêu chí, tiêu chuẩn và định mức để thực hiện các quyền tự chủ. Sau khi Luật này có hiệu lực thi hành, các trường đại học được thành lập trước năm 2000 có quyền tự chủ ngay theo những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể. Như thế các trường mới thấy có lộ trình và Luật có tác dụng ngay vào thực tiễn. Nếu Luật ra đời, chờ vài ba năm sau mới có Nghị định, tiếp tục chờ vài ba năm nữa mới có Thông tư hướng dẫn của Bộ trưởng thì sẽ rất chậm, hiệu lực của luật thấp.
ĐBQH Phạm Khánh Phong Lan (TP Hồ Chí Minh): Chúng ta mong chờ điều gì nhất ở dự án Luật này - chính là quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của giáo dục đại học
Đối với dự án Luật Giáo dục đại học thì hiện nay chúng ta mong chờ điều gì nhất? Có thể nói, thời gian qua, chúng ta đã phức tạp hóa rất nhiều vấn đề, nếu xem lại kinh nghiệm hoặc hiện giờ đối với các nước phần giáo dục đại học như thế nào thì tôi nghĩ giáo dục đại học không rối như hiện nay. Vấn đề xuyên suốt Luật Giáo dục đại học là quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học thì dự thảo Luật chưa giải quyết được. Nếu đọc sơ qua dự thảo Luật thì thấy vấn đề này được quy định rất hay, có tự chủ như thế này, thế kia nhưng cuối cùng bao giờ cũng thắt lại bằng một quy định là hoặc là Bộ trưởng quyết định, hoặc là Thủ tướng quy định. Tôi rất mong chúng ta phải thống nhất về quan điểm: thực sự chúng ta có muốn giáo dục đại học được tự chủ hay không? Giáo dục là lĩnh vực rất đặc thù. Phải có điều kiện để phát huy tính chủ động, sáng tạo và khả năng tư duy của cả người dạy và người học. Khi thầy không được tự chủ thì rất khó có được những học trò chất lượng, có khả năng tư duy cũng như tự chủ để xây dựng đất nước sau này.
Theo dự thảo Luật thì cơ quan quản lý nhà nước vẫn tiếp tục tham gia quá sâu vào những chuyện như biên soạn, xuất bản, in phát hành tài liệu giảng dạy, quy chế thi và cấp văn bằng chứng chỉ... Tôi nghĩ, điều này là không cần thiết. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng không nên quy định tuyển sinh theo cơ chế ba chung như hiện nay nữa vì mỗi ngành nghề sẽ có một đặc thù riêng và bản thân các trường đại học với các quy định xét tuyển cũng như tiếp xúc với các thí sinh và quyết định thì sẽ chính xác hơn trong việc lựa, lọc nhân tài. Khi tuyển sinh hợp lý thì sẽ có tác động dây chuyền đến chất lượng và đánh giá giáo dục của cả trung học, tránh hiện tượng học lệch cũng như đi theo bệnh thành tích để cho có những trường 100% học sinh tốt nghiệp, trên 90% là học sinh giỏi, thậm chí không có học sinh khá. Phải tăng cường quyền tự chủ, nhưng đồng thời phải nhấn mạnh vấn đề kiểm định. Bộ Giáo dục và Đào tạo nên tập trung vào công tác kiểm định chất lượng. Nhưng cũng không nên chỉ tập trung vào quyền lực của Bộ mà phải tăng cường hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận cũng như các hội đồng, các tổ chức hiệp hội chuyên môn, hiệp hội ngành nghề, có như vậy thì mới góp phần kiểm định khách quan, chính xác để bảo đảm chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học.