Danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia phải hợp lý
Xây dựng danh mục là bước khởi đầu trong quy trình thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia. Do vậy, phải lựa chọn, sắp xếp các chương trình, dự án thành phần hợp lý, để các mục tiêu hỗ trợ lẫn nhau, tạo hiệu quả tổng hợp, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư.
Căn cứ vào kết quả thực hiện trong giai đoạn 2006 – 2010 và triển khai kế hoạch năm 2011, Chính phủ đã đưa ra những tiêu chuẩn để lựa chọn Chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2012 – 2015. Theo đó, các vấn đề được lựa chọn để giải quyết bằng Chương trình mục tiêu quốc gia là những vấn đề có tính cấp bách, liên ngành, liên vùng và có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Đó cũng là những vấn đề đã được cam kết với quốc tế, khu vực. Mục tiêu và chỉ tiêu của các chương trình này phải cụ thể, rõ ràng, đo lường được; phù hợp với kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; không trùng lắp với các chương trình khác đang thực hiện. Và tiến độ triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phải phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng huy động nguồn lực. Các mục tiêu cụ thể phải xác định theo thứ tự ưu tiên hợp lý, bảo đảm đầu tư tập trung, có hiệu quả. Thời gian thực hiện mỗi chương trình là 5 năm hoặc phân kỳ thực hiện cho từng 5 năm.
Căn cứ vào những tiêu chí này, Chính phủ đã xây dựng Danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia (16 chương trình) gồm: việc làm và dạy nghề, giảm nghèo bền vững, nước sạch và vệ sinh môi trường, y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình, vệ sinh an toàn thực phẩm, văn hóa, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới... Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, danh mục Chương trình, dự án này đã thu gọn phạm vi, đối tượng; cơ bản khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo giữa nội dung của Chương trình với nhiệm vụ thường xuyên của các bộ ngành, địa phương. Đặc biệt là sự trùng lắp nội dung giữa các chương trình hay giữa các dự án thành phần của chương trình đều được giảm tối đa.
Theo ước tính của Chính phủ, tổng nguồn lực thực hiện các Chương trình trong giai đoạn 2011 – 2015 khoảng 275.980 tỷ đồng. Trong đó, sử dụng ngân sách Trung ương là 105.000 tỷ đồng, cân đối từ ngân sách địa phương là 61.543 tỷ đồng, vốn tín dụng khoảng 39.815 tỷ đồng… Để huy động được nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, Chính phủ yêu cầu các bộ ngành, địa phương cần xác định rõ trách nhiệm; phân bổ vốn dựa trên kết quả đầu ra; kinh phí bổ sung gắn với giao mục tiêu cho địa phương thực hiện, có ưu tiên miền núi, vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, sẽ tăng cường tranh thủ, thu hút vốn viện trợ từ các tổ chức quốc tế, tăng cường xã hội hóa, huy động nguồn lực đóng góp từ cộng dồng và doanh nghiệp.
Nhưng có thể thấy, kinh tế trong nước và kinh tế thế giới đang đứng trước nhiều khó khăn. Đặc biệt là khủng hoảng nợ công đã ảnh hưởng đến nhiều nền kinh tế có tiềm lực kinh tế vững chắc như EU, Mỹ… Trong bối cảnh này, việc huy động vốn cho các Chương trình mục tiêu quốc gia chắc chắn sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng. Hơn nữa, khi lượng vốn của ngân sách Trung ương đầu tư cho các chương trình giảm (chỉ còn chiếm 38,5%), thì sự thành công sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào những nguồn lực bên ngoài. Tuy nhiên, trong đề xuất Danh mục Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 – 2015, Chính phủ chưa làm rõ khả năng huy động các nguồn lực tài chính khác. Trong khi đó, nếu không huy động đủ nguồn vốn thực hiện, thì các chương trình, công trình, đề án, tiểu dự án… sẽ dở dang, kém hiệu quả, không đạt được những mục tiêu đã đề ra. Do đó, có ý kiến cho rằng, trong giai đoạn này, Chính phủ xác định rõ giải pháp huy động các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực xã hội và kế hoạch bố trí vốn đầu tư theo từng năm. Và tiến hành rà soát, cắt bỏ một số dự án có tỷ trọng chi thường xuyên lớn không đem lại hiệu quả cho các Chương trình mục tiêu quốc gia.
Qua rà soát lại danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 - 2015, Ủy ban Tài Chính và Ngân sách đề nghị loại bỏ một số dự án thành phần mang tính chất chi thường xuyên, thuộc nhiệm vụ của các bộ ngành, địa phương; chương trình, dự án còn trùng lắp; chưa mang tính cấp bách; đã hoàn thành mục tiêu giai đoạn 2006 – 2010 mà vẫn đưa vào giai đoạn tới. Nhưng điều này cũng cho thấy một số hạn chế trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 – 2010 tiếp tục được lặp lại trong Danh sách mới. Trong khi đó, thực tế đã cho thấy, sự trùng lắp nội dung của các dự án trong chương trình giảm nghèo đã khiến dù một địa bàn được thụ hưởng nhiều nguồn vốn đầu tư, thì đời sống của người dân không được cải thiện cơ bản. Hiệu quả đầu tư không cao nghĩa là lãng phí nguồn lực tài chính vốn còn hạn chế của nước ta.
Các Chương trình mục tiêu quốc gia đã được thực hiện đã có nhiều tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội nước ta, song cũng tồn tại nhiều hạn chế. Để phát huy tối đa hiệu quả của các Chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2012 - 2015, thì phải kiên quyết không nên lặp lại tình trạng thực hiện có thời điểm đầu, mà không có thời điểm cuối. Cần lựa chọn, sắp xếp hợp lý giữa các chương trình, dự án thành phần, để các mục tiêu hỗ trợ lẫn nhau, tạo hiệu quả tổng hợp, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư. Đồng thời, tăng cường thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm toán thường xuyên, đánh giá tổng kết định kỳ các Chương trình mục tiêu quốc gia; và xây dựng cơ chế xác định trách nhiệm trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư, để bảo đảm hiệu quả, tính chặt chẽ trong quản lý tài chính.