Hầm rượu (Phần 3)
Truyện của Phạm Thị Ngọc Liên
|
|
Khi tôi quay trở lại, quán Paradise đã mở cửa. Người chủ quán và mấy anh phục vụ có vẻ e dè khi tôi bảo tới đây tìm người, nhưng khi tôi mở ví ra cho họ xem tấm ảnh Nguyệt và tôi chụp chung, một người đã “Ah” lên một tiếng. Ông ta bảo: “Tôi nhớ cô này. Tối qua cô ấy ngồi ở chiếc bàn ngoài bờ kênh…” Tôi vội hỏi: “Cô ấy ngồi lâu không? Và ngồi một mình hay ngồi với ai, anh biết không?” Ông ta ngập ngừng nhìn tôi rồi đáp: “Cô ấy ngồi với một người đàn ông khoảng ngoài bốn mươi tuổi. Đúng ra là mỗi người ngồi riêng một bàn nhưng sau đó họ lại ngồi chung. Họ ngồi cũng khá lâu nhưng ra về trước khi quán đóng cửa”. Tôi hỏi: “Ông nhớ đúng chứ? Có thật là người trong tấm ảnh này đã ngồi ở đây với một người đàn ông?” Ông ta có vẻ phật ý: “Tôi không nhớ sai bao giờ. Họ đều uống Sangrita, mỗi người uống ba, bốn ly. Làm sao tôi quên được? Chính tôi phục vụ họ mà”.
Cuộc trò chuyện đã hé lộ cho tôi một chút tin tức của Nguyệt. Thế nhưng, có thể tin này không có ích bởi cả quán rượu lẫn khách sạn đều xác nhận rằng Nguyệt trở về khách sạn lúc gần hai giờ sáng. Người trực tiếp tân đêm qua đã nói Nguyệt đi uống rượu hai lần và lần thứ hai chỉ trước khi tôi về khách sạn nửa tiếng. Nghĩa là cô đã ở trong phòng khoảng một giờ đồng hồ…
Tôi tự nguyền rủa mình. Giá như đêm qua tôi đừng quá tự ái trước những lời trách móc của Nguyệt và đừng bỏ đi. Lẽ ra tôi phải nhớ chuyến đi này để hàn gắn mọi rạn nứt giữa tôi và Nguyệt. Lẽ ra tôi nên quay về khách sạn ngay, không để Nguyệt phải cô độc trong phòng. Lẽ ra tôi không nên sa đà nói chuyện với Lombard đến quên cả giờ giấc như thế… Nhưng dù có nguyền rủa mình như thế nào nữa, tôi vẫn không thoát ra được sự thật là Nguyệt đang mất tích hoặc có thể còn tệ hơn – bị cướp và bị giết.
Người sĩ quan cảnh sát cầm tấm ảnh chụp tôi và Nguyệt trong tay, nhìn thật kỹ rồi ngước lên bảo: “Theo đúng quy định thì chỉ sau hai mươi tư tiếng, anh mới nên khai báo người mất tích. Có thể cô ấy đi chơi và uống rượu say, ngủ ở đâu đó rồi. Anh hãy chờ hết ngày hôm nay xem”. Tôi cố gắng nài nỉ: “Không được đâu. Tôi hiểu tính vợ tôi. Cô ấy không bao giờ đi uống rượu qua đêm, nhất là ở một nơi chốn xa lạ, không có người quen như chỗ này. Bây giờ đã giữa trưa, nếu đúng như ông nói là cô ấy say và ngủ ở đâu đó thì cũng đã dậy và về khách sạn rồi. Chí ít, cô cũng phải gọi điện thoại cho tôi chứ? Đằng này, cô ấy biến mất tăm, như thể bay lên trời hay chìm xuống biển vậy. Các ông hãy giúp tôi với. Chúng tôi sắp cưới nhau và đây là tuần trăng mật của chúng tôi…”
Người cảnh sát nhìn tôi, tỏ vẻ thông cảm: “Thôi được rồi. Chúng tôi sẽ cho in ảnh và thông báo tìm kiếm vợ của anh. Giờ thì anh hãy kể lại cho tôi nghe một lần nữa về những gì anh tìm hiểu được ở quán rượu Paradise và ở khách sạn. Sau đó, anh cứ về nghỉ ngơi, chúng tôi sẽ thông báo nếu có tin gì mới”…
Bốn tiếng đồng hồ sau, vào lúc ba giờ chiều – Nguyệt đã mất tích mười hai tiếng đồng hồ - đồn cảnh sát gọi tôi đến. Người phục vụ ở quán Paradise đã ngồi ở đó từ lúc nào. Ông ta đang chăm chú vạch từng nét vào tấm giấy gì đó đặt trên bàn. Người sĩ quan cảnh sát mời tôi ngồi và bảo: “Ông Pedro đang giúp chúng tôi vẽ lại chân dung người đàn ông ngồi uống rượu lần thứ nhất trong đêm qua với vợ của anh. Có thể người đó chẳng liên quan gì đến việc vợ anh mất tích nhưng chúng tôi sẽ lần ra từng manh mối từ người này”.
Tôi ghé mắt nhìn vào bức chân dung của “kẻ tình nghi” trong tay Pedro. Nó vẫn chưa ra hình thù gì rõ nét. Ông ta ngước mắt nhìn tôi rồi nhún vai phân trần: “Xin lỗi. Tôi chỉ có thể vẽ được như thế mà thôi”.
Nguyệt.
Ông ta nói: “Vào đi, Moon” và tôi nhấc từng bước chân tê dại qua cánh cửa gỗ. Một cảm giác buốt lạnh đến tận xương lập tức bao trùm lên người khiến tôi hắt hơi và rùng mình liên tiếp. Tôi kêu lên: “Lạnh quá, tôi không chịu nổi. Đây là chỗ nào vậy?” Jean Paul lấy ra từ sau cánh cửa hai chiếc áo lông dày cộm. Ông ta đưa cho tôi một chiếc: “Cô mặc vào đi”. Trong khi mặc vào người chiếc áo lông to sụ ấy, Jean Paul đáp: “Có một số thứ cần phải bảo quản dưới 0 độ C nên căn phòng này được thiết kế như một nơi trữ lạnh. Nhưng cô sẽ ấm lại ngay khi uống rượu, đừng lo”.
Chúng tôi ngồi đối diện nhau, lọt thỏm trong lòng hai chiếc ghế bành. Dù vẫn còn lạnh và có cảm giác bồn chồn, lo sợ, tôi vẫn đưa mắt quan sát quanh phòng. Nơi chốn riêng tư của Jean Paul không giống như những phòng ngủ bình thường. Nó giống một phòng sách hơn vì hai dãy kệ xếp đầy sách kê sát cánh cửa gỗ. Ngoài hai chiếc ghế bành và chiếc bàn tròn nhỏ, thấp, nơi chúng tôi đang ngồi, ở một góc phòng có một thứ gì đó, tôi không gọi tên được. Nó có thể là rương đựng đồ đẹp nhất, to nhất mà tôi có thể thấy với từng nét chạm trổ tinh tế chung quanh. Bên cạnh chiếc rương đó là một chiếc bàn phấn của phụ nữ. Trên mặt bàn xếp đầy son phấn, nước hoa. Tôi nhìn chiếc bàn phấn đó với bao suy nghĩ rối rắm trong đầu. Như hiểu được tôi đang nghĩ gì, Jean Paul lên tiếng: “Đó là bàn trang điểm của vợ tôi. Cô ấy mất lâu rồi, tôi giữ lại nó để làm kỷ niệm”.
Tôi ậm ự trong miệng, không nói một lời nào. Jean Paul nghiêng người qua, bảo: “Tôi đã nói cô là người đầu tiên ngoại lệ khi bước vào căn phòng này. Lý do vì sao thì cô sẽ được biết sau khi ta uống chai rượu đầu tiên”. Ông ta đứng dậy, lại phía kệ sách, lấy ra hai cái ly chân cao và trở lại chỗ ngồi. Trước mắt tôi, ông ta đưa tay vặn tay nắm của chiếc ghế ông đang ngồi và tôi suýt kêu lên khi thấy mặt sàn phía trước sụp xuống một lỗ hổng to bằng chiếc nong tằm. Từ đó, chỉ trong vài giây sau, trồi lên một chiếc lồng nhỏ, nước nhỏ xuống sàn tí tách. Trong lồng, chứa một chai rượu giống như whisky. Nỗi ngạc nhiên bất ngờ làm tôi tê điếng cả người, không thốt nên lời. Jean Paul cúi xuống lấy chai rượu ra khỏi lồng, xoay tay nắm chiếc ghế một lần nữa. Chiếc lồng tuột xuống lỗ hổng và mặt sàn lại bằng phẳng như cũ, chỉ để lại một vũng nước nhỏ. Jean Paul lấy giẻ lau thật nhanh mặt sàn, trước ánh mắt đầy dò hỏi của tôi, ông ta bảo: “Một trong những cách bảo quản rượu, làm cho nó có mùi vị và nồng độ ngon hơn là ngâm dưới đáy nước. Tôi sẽ mời cô thứ rượu ngon nhất thế gian này”.
Jean Paul nói không khoa trương. Hớp rượu đầu tiên lạnh như một lưỡi gươm đá đi xuyên cuống họng rồi ấm dần lên và cháy bỏng trong dạ dày. Hớp thứ hai, thứ ba, rượu đã như miếng thạch mát lạnh tan trong miệng và tràn ra trong từng mạch máu cơ thể. Tôi nhắm mắt, uống cạn ly rượu, tận hưởng cảm giác chưa bao giờ có trong người – một cảm giác vừa vui sướng vừa nghẹn ngào muốn khóc.
Chúng tôi ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành, uống rượu trong im lặng. Thật ra, tôi đã nhổm người lên sau khi uống ly thứ hai, định hỏi Jean Paul một câu gì đó, nhưng ông ta đã đưa một ngón tay lên miệng rồi chỉ vào ly rượu, nhắm mắt lại. Tôi ngoan ngoãn làm theo ý ông. Chưa bao giờ tôi được uống rượu trong khung cảnh kỳ lạ như thế này thì cứ tận hưởng thôi.
Đột ngột, Jean Paul cất tiếng khiến tôi hơi giật mình: “Chai này uống như thế đủ rồi. Ta sẽ uống chai kế tiếp”. Tôi hỏi: “Vì sao phải uống chai khác trong khi chai này vẫn còn nhiều rượu?” Ông ta mỉm cười: “Mỗi chai rượu ướp dưới đáy nước như thế này chỉ tỏa mùi vị đặc biệt của nó trong vòng mười lăm phút đầu tiên. Sau đó, chất lượng rượu giảm đi một nửa. Vì chúng ta chỉ có hai người nên không thể uống hết chai trong thời gian ngắn ngủi ấy. Ta sẽ để chai rượu này sang một bên để uống một loại rượu khác”.
Các thao tác lại lặp lại. Chai rượu thứ hai được mở ra trong ánh mắt ngưỡng mộ của tôi. Jean Paul mỉm cười hỏi: “Cô vui phải không? Cô không hối hận vì đã theo tôi về đây uống rượu chứ?” Tôi cười: “Cho đến giờ phút này thì không”. Nói xong câu đó, tôi hơi giật mình nghĩ đến Minh. Bây giờ là mấy giờ rồi vậy? Minh đã về khách sạn chưa? Anh sẽ bực dọc hay lo lắng khi không thấy tôi ở đó? Tôi thò tay vào túi áo, định lấy điện thoại ra gọi Minh thì phát giác mình đã không đem theo. Tôi hỏi Jean Paul: “Bây giờ là mấy giờ rồi?” Ông ta nheo mắt đáp: “Tôi không để đồng hồ trong phòng này. Chắc cũng gần sáng rồi. Cô muốn về sao?”
Nhiều ý nghĩ lộn xộn trong đầu tôi. Đằng nào mình cũng đi cả đêm rồi, có ngồi thêm một lát nữa cũng thế thôi. Dù sao, mình cũng muốn cho Minh biết anh ấy sai lầm khi bỏ mình lại trong phòng…” Ngước mặt lên nhìn Jean Paul, tôi nói: “Không hề gì. Ta cứ uống đến khi nào ông thấy chán sự có mặt của tôi”.
Minh.
Ba giờ chiều. Nguyệt rời khỏi khách sạn chỉ mười hai tiếng đồng hồ nhưng tôi tin chắc cô ấy đã mất tích. Theo yêu cầu của tôi, cơ quan cảnh sát đã cho in ảnh của Nguyệt và dán ở những nơi công cộng với thông báo tìm kiếm. Ở khách sạn, người ta nhìn tôi bằng những cặp mắt thông cảm lẫn thương xót. Suốt từ sáng tới giờ, tôi lang thang gần hết những con đường gần khách sạn, vào rất nhiều quán rượu để mong rằng mình sẽ tìm được ít nhiều tin tức về cô. Nhưng tất cả chỉ là con số không. Hai chân tôi mỏi rã rời. Miệng tôi khô đắng và cơ thể mệt lả vì bụng đói. Người cảnh sát đi cùng khuyên tôi: “Anh nên về khách sạn ăn uống và nghỉ ngơi. Đi tìm như thế này cần phải có sức”. Anh ta nói có lý. Tôi không thể để mình gục ngã trước khi tìm thấy Nguyệt được.
Ăn xong, tôi lên phòng. Căn phòng trống vắng, thiếu Nguyệt như thiếu hẳn sinh khí. Tôi uể oải thay quần áo, vào phòng tắm, mở vòi nước cho chảy vào trong bồn. Thường mọi khi, tôi chỉ tắm dưới vòi sen và đó là lý do vì sao phòng tắm luôn luôn ướt khiến Nguyệt bực bội. Tôi vừa đứng pha nước, vừa ước rằng Nguyệt thình lình xuất hiện ở phía sau để tôi có cơ hội xin lỗi và bảo rằng mình đang pha nước cho cô tắm. Tôi nhớ mùi lavender thoang thoảng mỗi khi cô bước ra khỏi phòng tắm và đưa mắt tìm chai tinh dầu để pha vào bồn nước. Đó là lúc tôi nhìn thấy điện thoại của Nguyệt. Cô để nó trên nắp lavabo, dưới chiếc khăn tắm vẫn còn ẩm ướt. Có lẽ cô lau người xong, bỏ chiếc khăn phủ trên điện thoại mà không biết, sau đó quên luôn. Cầm chiếc điện thoại trên tay, tim tôi nhói đau. Vật còn đây mà người đi đâu vậy? Trong vô thức, tôi bật nắp điện thoại lên và ngơ ngẩn bấm vào nhiều phím. Bất ngờ, tôi nhìn thấy trên màn hình điện thoại hiện ra một dòng số lạ ở phần resend. Đồng hồ điện thoại ghi cuộc gọi lúc 2 giờ 45 phút đêm hôm qua. Sống lưng tôi lạnh buốt. Ai đó ở Venice đã gọi Nguyệt và mười lăm phút sau cô rời khỏi khách sạn lần thứ hai.
Giọng người sĩ quan cảnh sát khá sốt sắng khi tôi gọi điện bảo rằng mình có thêm một manh mối về Nguyệt: “Sao? Anh nói có dấu vết mới của cô ấy à? Được rồi. Hãy ra đồn gặp tôi. Đừng làm gì trước khi tôi đến nhé”.
Trước mặt tôi, ông ta bảo người cảnh sát trực ban liên lạc với bưu điện để tìm hiểu ai là chủ nhân số điện thoại hiển thị trên máy. Một lúc sau, người này ra dấu cho ông ta đến gần, nhìn vào máy vi tính. Tôi có linh cảm không tốt về chuyện này. Đúng như vậy. Người sĩ quan cảnh sát đi vòng qua chiếc bàn, đến bên cạnh tôi, lắc đầu: “Con số này không thuộc về ai cả. Nó là số điện thoại dùng một lần rồi vứt đi”…
Nguyệt.
Tôi không còn nhớ mình đã uống bao nhiêu ly rượu, thưởng thức bao nhiêu chai rượu nữa. Cảm giác bềnh bồng chiếm hữu, tay chân tôi như có hàng vạn, hàng triệu con kiến bò lui khiến tôi bật cười. Tôi cố gắng cầm chiếc ly trong tay đưa lên môi nhưng không nổi. Nó tuột ra và rơi xuống chiếc áo lông tôi mặc. Có lẽ rượu đã làm ướt áo rồi nhưng tôi không có cảm giác gì cả. Mơ hồ trong vô thức, tôi nghe giọng nói của Jean Paul: “Cô còn đủ tỉnh táo chứ? Tôi đã hứa sẽ cho cô biết lý do vì sao cô là người ngoại lệ được bước vào phòng này. Mở mắt ra nào”. Tôi trả lời, ngạc nhiên vì âm thanh yếu ớt thoát qua kẽ môi: “Mắt tôi vẫn mở mà”. Jean Paul dịu dàng: “Tốt. Hãy nhìn thẳng về phía trước mặt đi”. Tôi nhìn và hơi giật mình, nếu đó đúng là cảm giác giật mình mà tôi còn đủ sức nhận biết. Phía bức vách trước mặt, khi chúng tôi ngồi uống rượu, vốn phủ một chiếc rèm nhung. Giờ, nó đã được vẹt ra, để lộ một bức tranh vườn cây tuyệt đẹp. Trong tranh, người đàn ông đang nửa nằm, nửa ngồi dưới một cội cây tùng là Jean Paul. Người phụ nữ với chiếc váy dài màu hoa lý nằm dựa vào lòng Jean Paul với vẻ trễ tràng đáng yêu là… tôi.
Tôi không kêu lên được tiếng nào, mắt nhìn sững vào bức tranh. Ông ta đã đứng dậy và đến bên cạnh tôi từ lúc nào. Nâng cằm tôi lên, ông ta bảo: “Chào mừng em về nhà, Moon. Em đi lâu quá. Lần này anh sẽ không để em rời xa anh nữa”.
(Số sau đăng hết)
