Cần thanh lọc tín dụng ngoại tệ

Hải Thanh 25/07/2011 07:40

Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huy động ngoại tệ nhưng nhiều ngân hàng thương mại vẫn tìm cách lách quy định. Tình trạng này xảy ra là do nhu cầu vay ngoại tệ tăng cao, nhất là khi vay bằng hình thức này rẻ hơn so với vay bằng VNĐ. Nhưng nếu không kiểm soát ngoại tệ chặt chẽ thì sẽ đi lại vết xe đổ của tiền đồng, gây áp lực cho kiểm soát lạm phát.

Hiện nay, các ngân hàng đều công bố trần lãi suất huy động ngoại tệ ở mức 2% như yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước. Nhưng bằng cách này, cách khác, lãi suất huy động ngoại tệ vẫn vượt trần. Việc lách trần lãi suất xảy ra là do nhu cầu vay vốn ngoại tệ tăng cao. Tỷ giá ổn định trong khi chênh lệch lãi suất với vay bằng VNĐ hiện là khoảng 10%/năm đã khuyến khích doanh nghiệp chuyển sang vay ngoại tệ. Hơn nữa, dù khoảng cách chênh lệch giảm xuống mức 5-7%/năm thì doanh nghiệp vay ngoại tệ vẫn lợi hơn. Do đó, theo Ngân hàng Nhà nước, từ đầu năm đến cuối tháng 6, vốn huy động ngoại tệ tăng 8,94% so với cuối năm 2010, nhưng dư nợ ngoại tệ tăng 23,47%. Từ tháng 5.2011, xu hướng chuyển từ gửi ngoại tệ sang gửi VNĐ đã được thể hiện rõ hơn.

Nguồn: abbank.vn
Nguồn: abbank.vn

Nhiều ý kiến cho rằng, sự thiếu hụt đầu vào của tín dụng ngoại tệ không đáng lo bằng sự mất cân đối nguồn vốn. Thực tế, người dân chủ yếu gửi tiết kiệm USD ở các kỳ hạn ngắn dưới ba tháng. Trong khi đó, kỳ hạn cho vay tương đối dài, khoảng 6-12 tháng đối với nhà xuất khẩu. Sự mất cân đối này có thể ảnh hưởng đến việc phân bổ vốn khả dụng của các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng. Và sau đó, sẽ ảnh hưởng đến lãi suất thị trường liên ngân hàng, làm cho lãi suất qua đêm biến động mạnh khi sự mất cân bằng là đáng kể. Ngân hàng Nhà nước buộc phải sử dụng các nghiệp vụ thường xuyên để bơm vốn cho các ngân thương mại nhằm giảm sự biến động lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Mặt sau của giải pháp này là vô hình trung tăng nguồn cung tiền, gây áp lực lên kiềm chế lạm phát.

Gần đây không ít nhà xuất khẩu và những tổ chức kinh tế có điều kiện tiếp cận tín dụng ngoại tệ đã tận dụng sự ổn định của tỷ giá, vay ngoại tệ, chuyển qua tiền đồng, gửi tiết kiệm, hưởng chênh lệch lãi suất. Việc vay USD để chuyển sang tiền đồng của họ không khác gì hoạt động mua bán tiền tệ để hưởng chênh lệch lãi suất đang được một số tổ chức nước ngoài tiến hành. Tuy nhiên nước ngoài sử dụng tiền của họ hoặc tiền vay bên ngoài, nên áp lực trả nợ đối với thị trường trong nước tương đối thấp. Các doanh nghiệp nội địa thì không thể tìm nguồn trả nợ ở đâu khác ngoài thị trường nội. Nếu thời điểm đáo hạn của các khoản vay này đến cùng một lúc có thể tác động tiêu cực đến tỷ giá. Thông thường, nhu cầu ngoại tệ của ngân hàng tăng cao sẽ nhanh chóng tác động đến diễn biến tại thị trường tự do, khiến giá ngoại tệ tăng đột biến.

Các chuyên gia đề nghị cần kiểm soát và thanh lọc tín dụng ngoại tệ. Song song với nó là việc sử dụng một cách linh hoạt các giải pháp mang tính thị trường như tăng thêm dự trữ bắt buộc ngoại tệ, từng bước giảm lãi suất tiền đồng. Bởi tăng trưởng tín dụng ngoại tệ hiện ở mức 23%, chỉ thấp hơn so với thời điểm năm 2008, còn cao hơn so với các năm trước đó. Hơn nữa, theo quy luật, chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và cho vay ngoại tệ ngày càng lớn, thì nguy cơ mất cân đối nguồn vốn càng nhiều.

Hải Thanh