Nhiều quy định đã lỗi thời
Quá trình cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đã khai thác khá tốt nguồn thu, tạo động lực thúc đẩy đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích xuất khẩu. Tuy nhiên, thuế TNDN vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, dễ tạo kẽ hở cho doanh nghiệp lợi dụng trốn thuế và không khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ.
Chi phí hợp lý... chưa hợp lý
![]() |
| Nguồn: news.isc.vn |
Đánh giá về hạn chế, một số chuyên gia cho rằng, thuế TNDN làm hạn chế khả năng cạnh tranh, đầu tư đổi mới công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế. Đôi khi, những quy định về chi phí hợp lý lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp trốn thuế. Chẳng hạn, đối với chi phí khấu hao tài sản cố định, theo quy định hiện hành, doanh nghiệp được phép khấu hao nhanh tối đa không quá 2 lần khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, nhưng lại không quy định thế nào là hoạt động kinh doanh có đủ điều kiện để được khấu hao nhanh. Chính sách này, theo một cán bộ ngành thuế, nhiều lúc vô tình tạo cơ hội cho doanh nghiệp lách thuế bằng cách kê khai tăng chi phí để giảm số thuế phải nộp, ảnh hưởng đến số thu ngân sách.
Theo đó, vị cán bộ này đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng: cho phép doanh nghiệp được trích khấu hao nhanh tối đa bằng mức tỷ lệ giữa thu nhập trước khi khấu hao nhanh so với tổng doanh thu đã thực hiện trong năm và đảm bảo sau khi tiến hành trích khấu hao nhanh doanh nghiệp vẫn có lãi để thực hiện nghĩa vụ thuế. Cơ sở của phân tích này là để đảm bảo nguồn thu và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp. Vì tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có công nghệ mới chỉ đạt khoảng 20,6%, thấp hơn các nước trong khu vực.
Đối với chi phí vật tư, chính sách thuế hiện hành chưa xây dựng định mức tiêu hao vật tư bình quân chung cho từng ngành. Hiện nay, doanh nghiệp được quyền tự xây dựng định mức tiêu hao vật tư cho bản thân. Vin vào quy định này, một số doanh nghiệp sẽ kê khai tăng định mức tiêu hao để tạo hành lang an toàn khi thực hiện quyết toán thuế TNDN; đồng thời tạo ra sự thiếu công bằng giữa các doanh nghiệp do các cơ quan thuế khác nhau quản lý. Có thể nói, định mức này chỉ mang tính chất đối phó chứ không phải được sử dụng như đòn bẩy kinh tế nhằm khuyến khích sử dụng tiết kiệm vật tư và cũng loại bỏ vai trò quản lý Nhà nước dưới dạng quy định tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật.
Do vậy, để khắc phục tình trạng này cần phải ban hành định mức tiêu hao bình quân cho từng ngành, áp dụng chung trên phạm vi cả nước. Từ đó, doanh nghiệp có thể tham khảo xây dựng định mức cho bản thân và cơ quan thuế có thể kiểm tra định mức các doanh nghiệp tự xây dựng có hợp lý không.
Thuế suất quá cao?
Ngoài các vấn đề trên, một số doanh nghiệp cũng cho rằng, thuế suất 25% vẫn còn cao so với các nước trong khu vực và khả năng thu nhập của nền kinh tế, nên đã tác động đến khả năng thu hút đầu tư, khả năng tích lũy vốn để tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cạnh tranh về thuế để thu hút vốn đầu tư bắt đầu diễn ra phổ biến từ những năm 1980 khi hàng loạt các nước giảm thuế thu nhập công ty để thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. So với một số nước thì mức thuế suất thuế TNDN của Việt Nam đang dần trở nên hấp dẫn. Cụ thể, Malaysia 28%; Singapore 20%; Trung Quốc 25%; Bulgaria 10%; Hungary16%... Theo ý kiến một số nhà kinh tế, trong bối cảnh hiện nay, để thực hiện chủ trương thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cho sự nghiệp công nghiệp hóa, thì thuế suất phổ thông của thuế TNDN nước ta nên giảm còn khoảng 20%. Mức thuế này vừa tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, vừa không gây ra cú sốc quá lớn với nguồn thu ngân sách. Ngược lại, có thể tăng thu vào ngân sách vì khi giảm thuế suất sẽ đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, kích thích thu hút vốn đầu tư, và khi vốn đầu tư tăng sẽ tác động đến tăng trưỏng kinh tế làm số thu vào ngân sách sẽ tăng.
Thực tế đã cho thấy khi giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống 25% vào năm 2009 thì số thuế TNDN không những không giảm đi mà còn tăng thêm: nếu như năm 2008 số thuế TNDN đạt 98.256 tỷ đồng thì đến năm 2009 số thu thuế TNDN đạt được 106.279 tỷ đồng, năm 2010 đạt mức 134.220 tỷ đồng (trang web Bộ Tài chính). Bên cạnh đó, giảm thuế suất thuế TNDN còn thêm ưu điểm là tránh được tình trạng trốn thuế thông qua chuyển giá quốc tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ưu đãi thuế nên ổn định
Chính sách ưu đãi thuế TNDN là một trong những yếu tố góp phần thu hút vốn đầu tư. Nhưng các quy định về ưu đãi này hiện còn phức tạp như: rất khó áp dụng một cách thống nhất các ưu đãi giữa doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp di chuyển địa điểm, doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, hoặc rất khó phân biệt một cách rạch ròi giữa lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh đang tiến hành với lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh mở rộng để được hưởng ưu đãi đầu tư.
Do vậy, chính sách ưu đãi thuế cần được lựa chọn hình thức ưu đãi phù hợp với những đối tượng và điều kiện khác nhau. Chẳng hạn, cho phép doanh nghiệp chuyển lỗ cùng với việc áp dụng một mức thuế suất thấp và khấu hao nhanh giúp nhà đầu tư giảm gánh nặng thuế trong những năm đầu. Hình thức ưu đãi này sẽ khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào những dự án lớn thường bị lỗ trong những năm đầu. Ưu đãi miễn thuế có thời hạn chỉ hấp dẫn các dự án đầu tư ngắn hạn vì vậy cần thay thế hình thức ưu đãi miễn giảm bằng hình thức cho khấu trừ thuế được xác định theo tỷ lệ tương ứng với giá trị đầu tư vào các lĩnh vực ngành nghề hoặc địa bàn được khuyến khích. Quy định cho phép khấu trừ thuế sẽ thu hút các dự án đầu tư dài hạn và là động cơ khuyến khích đầu tư vì đây là hình thức ưu đãi gắn liền với giá trị đầu tư.
Hơn nữa, doanh nghiệp cũng mong muốn ưu đãi thuế cần mang tính ổn định và bảo đảm tính đơn giản. Việc sửa đổi thay đổi thường xuyên các chế độ ưu đãi có thể làm cho đối tượng nộp thuế cảm thấy hệ thống thuế phức tạp và khó tuân thủ, sẽ tạo tâm lý không yên tâm cho các nhà đầu tư, từ đó có thể cản trở quyết định đầu tư. Để tránh trường hợp thay đổi thường xuyên thì khi xây dựng chế độ ưu đãi đòi hỏi các nhà làm chính sách phải có tầm nhìn chiến lược.
