Mặt trời ở Cánh Đồng Chim (Phần cuối)
Truyện ngắn Trần Thùy Mai

25/05/2011 07:20

Mặt trời ở Cánh Đồng Chim (Phần cuối)<BR /><I>Truyện ngắn Trần Thùy Mai</I> ảnh 1
Minh họa của Thúy Hằng

>> Mặt trời ở Cánh Đồng Chim (Phần 1)

Câu chuyện về Blanche dừng lại khi chiếc xe ngựa tiến dần vào sân tòa nhà hai tầng sơn trắng. Trong gió chiều có hơi ẩm ướt của biển. Cánh Đồng Chim… Đây là vùng Saint Enogat, nếu chịu khó đi thêm hai mươi phút nữa họ sẽ đến bãi biển Dinard. Hai mươi sáu năm trước, Ông đến đây lần đầu theo lời mời của Pierre Louys, với sự đồng ý của chính phủ Pháp. Ngày ấy bãi biển này còn hoang sơ lắm. “Bây giờ thì khác rồi – Suzanne nói. “Mỗi mùa hè du khách về đây rất nhiều, người ta rất thích những giai thoại về các văn nhân nghệ sĩ đã từng qua đây”. Ông mỉm cười: Judith Gautier của Ông hẳn cũng đã trở thành một phần sự bí ẩn quyến rũ của vùng biển Dinard.

“Anh có biết vì sao chị ấy lại đặt tên tòa nhà này là Cánh Đồng Chim không? Chẳng có cánh đồng nào quanh đây cả”. Suzanne hỏi. Sao lại không, ông vẫn nhớ buổi sáng ấy tiếng chim ríu rít vang lên trên mái cao. Đây là bờ biển, cát trải dài chung quanh, không có cây xanh cho chim đậu nhưng dưới những khoảng hiên rộng và yên ắng của tòa nhà này chim Pie vẫn thường về làm tổ trên những kèo nhà, dưới mái ngói mát mẻ. Cả tòa nhà đã thành một ốc đảo chim.

Judith mặc áo màu xanh lam có nơ trắng trên ngực, tóc cuốn cao cài một chiếc lược giắt hạt trai đen. Cô đã chờ rất lâu để được gặp “Ông hoàng An Nam”. “Chờ tôi?”. “Vâng, thưa Hoàng Thượng, ông Louys đã nói với tôi về vị Hoàng đế An Nam ở Algérie. Từ đó tôi luôn nghĩ về ngài như một huyền thoại”. Ông ngạc nhiên khi biết nhà văn nữ trẻ tuổi đang dịch thơ Đường, và cô mong được ông giải thích giúp cho những chỗ mà chỉ một người phương Đông mới hiểu. Cô cũng khoe với ông một truyện ngắn mà cô lấy cảm hứng từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Khi lên tám tuổi một hôm cô nhìn thấy bức tranh nhỏ rất kỳ lạ trong phòng của mẹ. “Bức tranh vẽ một chàng trai trèo lên cây dừa hái trái, phía dưới là hai thiếu nữ xòe váy hứng. Bức tranh có nét vẽ ngây thơ hồn nhiên làm tôi tưởng tượng ra một xứ sở ngộ nghĩnh hiền hòa, càng thú vị hơn khi cha tôi bảo màu nâu trong bức tranh làm từ đất, màu vàng là nước ép hoa quỳ, màu xanh là từ đọt lúa non của chính vùng đất ấy…” Nhà văn Gautier, cha của cô có quen một nhà truyền giáo người Pháp đã từng sang Việt Nam, ông này tặng ông một bức tranh Đông Hồ. Từ sự tò mò về một xứ sở phương Đông, lớn lên Judith đã tìm đọc nhiều sách, một thế giới u ẩn trải ra trước mắt cô và trở thành nguồn cảm hứng vô tận. Cựu hoàng đế Hàm Nghi không bao giờ ngờ lại gặp một người con gái Pháp cầm bút lông viết chữ Nho trước mặt mình.

Năm ấy Ông ba mươi tuổi, hơn Judith chừng bốn năm tuổi, Suzanne thì vào trạc hai mươi. Ông là khách của hai cô gái. Hơn mười năm ở Algerie, Ông vẫn sống rất khép kín, thầm lặng, hầu như không giao tiếp với ai, đặc biệt là với phụ nữ da trắng. Judith là ngoại lệ, cô hầu như thuộc về thế giới của riêng ông, một thế giới vẫn sống động trong lòng ông qua nhiều năm quay mặt vào bên trong để sống. Có những buổi chiều khi Suzanne mải mê làm một món cá nướng đặc biệt của vùng Bretagne thì Judith dẫn ông đi dạo quanh Cánh Đồng Chim, nài nỉ Ông kể cho cô nghe về thời niên thiếu trong rừng Tân Sở. Ông đồng ý, với lời dặn dò: “Nhưng cô phải hứa không được đưa cuộc đời tôi vào truyện ngắn”. Judith hứa, và như những tín đồ Kitô, cô luôn giữ lời hứa của mình. Cô không viết thành truyện, nhưng đã viết vào thơ, rất nhiều thơ về một vị hoàng đế trẻ tuổi có số phận bi kịch. Ông đã quên không dặn gì cô về thơ…

Đang mùa hè, nhưng ở Saint Enogat, khí hậu mát mẻ như mùa xuân. Trong lòng Ông cũng có mùa xuân đang đến, làm tan hết những băng giá đã đông cứng từ lâu rồi. Trên những bức thư pháp thơ Đường để lại Cánh Đồng Chim, Ông đều ký bút hiệu mới là Tử Xuân. “Ông cũng tìm cho em một biệt hiệu mới đi!” Judith bảo. “Để xem”, Ông ngẫm nghĩ. “Từ nay tôi gọi em là Maya”.

Khi nàng hỏi Maya nghĩa là gì, Ông đã không nói. Ông đã âm thầm nghĩ đến hoàng hậu Maya, người sinh ra Phật. “Judith đã khai phục cuộc sống trong tôi”. Ông bảo. Suzanne nghe, lặng yên. Cô cảm thấy dĩ vãng hiện về trong từng tiếng nói trầm ấm của Ông.

Chiếc xe tứ mã đã tiến dần vào khuôn viên Cánh Đồng Chim. Ánh trăng mùa đông đang dẫn đường cho họ trong một đêm khô lạnh và trong vắt.

Họ xuống xe, Suzanne xách va li còn Ông không rời tay ôm ống tranh.

“Anh sẽ nghỉ trong phòng của Judith”. Suzanne nói.

Hai mươi sáu năm trước cũng thế, Judith đã nhường phòng mình cho Ông. Tất cả chăn màn, và khăn phủ bàn đã được thay cho phù hợp với nam giới hơn, nhưng mỗi lần đặt lưng xuống chiếc giường êm ái của nữ chủ nhân, Ông vẫn cảm tưởng như có hơi ấm của nàng trong từng vật dụng nhỏ nhất của căn phòng. Hôm ấy cũng có trăng khi gần về sáng. Ông thức giấc, không ngủ được, bước ra hiên rồi đi dạo thơ thẩn đến khi trăng lặn. Rồi Ông thấy Judith trên bao lan, cô cũng dậy rất sớm, đang ngồi trước khung giấy bản mở rộng. “Tử Xuân, màu giấy trắng thật đẹp, em muốn viết một điều gì đó thật đẹp”.

Ông ngồi xuống sau lưng Judith, vòng tay cầm lấy bàn tay nàng, viết lên trang giấy mấy chữ theo lối thảo:
“Ngã Ma Y Gia” (Maya của tôi).

Vừa lúc đó Ông thấy đốm lửa tròn rực rỡ đang mọc lên từ chân trời. Vẫn cầm tay Judith, Ông viết tiếp:

“Nhật lai thiên” (Mặt trời đã đến với bầu trời).

Giống như em đã đến trong cuộc đời tôi. Judith biết ông hoàng trẻ muốn nói như vậy, với cách nói tế nhị mà dịu dàng nhất của người phương Đông. Cô mãi mãi treo bức chữ ấy trong phòng mình. Và còn hơn thế nữa…

Ba năm sau…

 Ông lấy vợ ở Algerie. Cô dâu là Marcelle Leloe, con gái quan chánh án tòa Thượng Thẩm Alger. Đám cưới không làm những người quen ở Alger ngạc nhiên, vì từ khi ở Pháp về, Ông đổi khác rất nhiều… Trước đó, trong mười năm trời, Ông vẫn không tài nào làm quen với ý nghĩ mình sẽ cưới một cô gái da trắng.

“Cuộc đời tôi bị buộc với Algérie cũng như Judith phải gắn chặt với nước Pháp. Vì vậy…” Ông nói như nói với mình, một câu nói mà có lẽ Suzanne đã nghe nhiều lần nên cô chẳng cần trả lời. Cô nhìn vào khuôn mặt người đàn ông mà từ lâu cô đã xem như người anh ruột thịt. Dĩ vãng u ẩn làm cho ánh mắt của ông có một sức hút rực rỡ. Đêm hôm qua, ngủ lại trong phòng của Judith, ông có thấy chị ấy hiện về không?

Trong khuôn viên tòa nhà Cánh Đồng Chim, ngôi mộ đá của Judith nằm lặng lẽ. Năm 1917, khi cô mất, người bạn Tử Xuân từ bên kia biển muốn đến đưa tiễn. Nhưng lúc ấy đang thế chiến thứ nhất, nhà cầm quyền Pháp đề phòng cẩn thận, không cho phép người tù vương giả được ra khỏi chỗ lưu đày. Hai người bạn tri âm không thể sống gần nhau thì khi chết cũng không dễ gặp nhau…

Suzanne ngồi xuống giữa những bông hoa Iris màu tím mọc chen quanh nấm mộ. Cô gạt lớp sương mỏng li ti trên đá, để lộ mấy dòng chữ Hán khắc dưới cái tên Judith Gautier:

 “Maya của tôi, mặt trời đến với bầu trời”.

Suzanne nắm tay Ông:

“Em đã làm theo ý muốn của Judith, khi sắp mất”.

Cựu hoàng Việt Nam đứng yên lặng rất lâu.

Đang giữa mùa đông, nhìn lên chỉ thấy mây dày che phủ. Nhưng Ông biết trên cao kia mặt trời vẫn đang tồn tại, luôn ấm áp và rực sáng như hình ảnh Maya trong trái tim Ông.