Mảnh đạn (Phần 2)
Truyện ngắn của Ma Văn Kháng

11/05/2011 07:31

>> Mảnh đạn (Phần 1)

>> Mảnh đạn (Phần cuối)

Mảnh đạn (Phần 2)<BR /><I>Truyện ngắn của Ma Văn Kháng</I> ảnh 1
Minh họa của Thanh Huyền

Thấy Lộc to tiếng, đám đàn ông đàn bà hiếu sự hàng xóm lập tức kéo sang. Được dịp, Lộc càng cao giọng phân trần, kể khổ. Đám người vây quanh nghe Lộc, gật đầu, chép miệng: hóa ra bác Lộc quyền cao chức trọng, đi nước ngoài như đi chợ, vợ đẹp, nhà lầu mà có sướng đâu. Thật là tạo vật đố toàn. Ông trời chả cho ai sung sướng trọn vẹn cả là vậy. Chả ai sung sướng cả. Đời là vậy. Chao ôi, nếu cần tìm dẫn chứng thêm để chứng minh cho chân lý phổ biến trên thì có thể lấy ngay ở ngõ phố toàn biệt thự cao sang này. Ông tướng B. sau ba mươi năm chinh chiến, rất chịu khó thu nhặt chiến lợi phẩm và tận dụng nước sông công lính, có được sản nghiệp hơn năm trăm cây, một đêm bị thằng con lêu lổng cuỗm sạch rồi biến mất. Ông thứ trưởng T. mới được đề bạt, có cô vợ diễn viên trẻ măng, nào ngờ suýt chết vì đòn ghen của bà vợ cả răng đen. Ông K. giám đốc công ty B.N có cả tài khoản gần nửa tỷ Mỹ kim gửi ngân hàng quốc ngoại có hai thằng con trai thì nghiện ma túy cả hai. Kẻ bị lừa. Người bị trấn. Không thì lại bị chính người trong nhà bòn rút, chia sẻ, tàn hại. Lại có anh vừa vênh vang nhà cao cửa rộng chưa đầy tháng trời đã bị đồng nghiệp làm phản tố cáo, bị tóm gáy vào nghỉ mát ở nhà đá. Lắm ông về già tưởng có thể ung dung tận hưởng của cải một đời trộm cắp, thì trời buộc miệng không cho ăn, vì ốm đau suy nhược lắt lay đến tội. Ấy thế, thoát khỏi đòn trả thù của người đời thì lại bị trời hành, bị số kiếp bó buộc, không sao xoay chuyển lại được, trớ trêu quá!

Đứng giữa chúng sinh cùng cảnh ngộ, Lộc bị kích ứng, càng cao giọng gay gắt:

- Vẫn biết rằng nó là cái tai ách của gia đình tôi phải gánh, nhưng các bác xem, làm sao mà tôi chịu đựng nổi. Cứ vài ngày lại một vụ đập phá như thế này. Mà đã hết đâu. Nó phá phách, gây gổ, trộm cắp ở tận đẩu tận đâu, người ta cũng kéo đến đây nhè đầu tôi ăn vạ, đòi đền bồi. Đấy, tuần trước nó cầm mái chèo chém vỡ đầu một ông thuyền chài, vợ ông ấy dìu chồng ôm đầu bông băng đỏ loét đến đây, tôi lại phải chi cho người ta hơn một chỉ mới yên. Cụ thấy tôi có nói sai tẹo nào không? Cụ nói cho bà con hàng xóm nghe đi.

Bà cụ ứa nước mắt:

- Tội là do tôi, các bác ạ. Con dại cái mang. Nó điên khùng, rồ dại, hư hỏng là do tôi không dạy nó.

 Lừ mắt lườm mẹ, Lộc ngoắt người, đánh tay:

- Sao hồi đi bộ đội, nó không chết mẹ nó đi cho xong.

Bà cụ khóc òa:

- Ối con ơi, sao mày không chết hồi đi bộ đội, con ơi!

Quay lại, mắt tím lịm, Lộc tàn nhẫn:

- Tôi nói thật đấy. Chết toàn đứa tốt. Sống toàn loại không điên khùng dại ngộ thì cũng vô tích sự!

Bà cụ ngửa mặt lên trời, hờ thảm thương:

- Ối con ơi, sao mày không chết hồi ấy, hả Tự ơi!

*

Tự ơi, sao con không chết ngoài mặt trận, hả con? Ở ngoài mặt trận nhiều người chết lắm cơ mà. Có người chưa kịp ghi tên vào đơn vị đã chết. Có người chưa kịp tham gia một trận đánh nào đã chết. Chết vì bom đạn, vì đói khát, vì thú dữ ăn thịt, vì sốt rét ác tính. Chết gì thì cũng được mang danh thơm liệt sĩ. Liệt sĩ thì danh giá cho mẹ già. Mẹ già được phát bằng Tổ quốc ghi công. Được tiền tuất hàng tháng. Riêng tháng bảy thế nào cũng được đại biểu ủy ban, phòng thương binh xã hội đến úy lạo, tặng cái khăn mặt, gói chè hương. Vợ chồng Lộc - Liễu cũng được tiếng thơm lây. Em là liệt sĩ được ưu tiên nhiều thứ lắm!

Thế mà tại sao Tự lại không chết? Giặc tan lại lù lù dẫn thân xác về. Mà nào có ra thân xác. Gầy gòm, hôi hám, chỉ còn một nửa phần hồn phần xác là quen, còn thì lạ lẫm lắm! Lạ lẫm, vì xưa có bao giờ như thế. Đặt cái ba lô rách xuống đất là ngồi phứa lên trên, lục cái điếu làm bằng ống pháo hút re re, nhe hàm răng xỉn như răng người chết, ngộ độc, thở khói phù phù. Con ơi, bố mày xưa phát ho phát hen vì thuốc lá thuốc lào đấy. Bỏ đi. Hút vào, ỉa ra khói, lại bệnh tật nữa. Bà cụ giật cái điếu. Nó giằng lại, cười khì khì: “Mẹ kiếm cho con ít rượu đổ vào điếu, hút mới khoái!”

Giữa sống chết thì sống bao giờ cũng khó khăn hơn và gây phiền cho mọi người xung quanh hơn. Đằng này Tự lại sống dở. Mười bảy tuổi tình nguyện đi bộ đội. Lấy máu viết đơn mới được đi. Anh hùng thật, nhưng đã thành người đâu. Học vấn dở dang lớp chín. Tính nết chưa ra người lớn. Như cái thứ bán thành phẩm, khi trở về, cũng vẫn là cái của dở dở ương ương như thế. Nhưng dở dở ương ương thì cũng vẫn phải ăn. Vẫn phải ăn, cũng có nghĩa là phải làm. Nhưng làm gì được? Nghề ngỗng không. Chữ nghĩa quên sạch. Sức đã bạc, động tay động chân là thở phì phò như ông già. Cũng chẳng còn thói quen cần cù nữa. Thôi đành tìm việc thổ mộc đơn giản để có đồng lương lần hồi vậy. Nhưng, xúc đất ở công trường đào hồ thủy lợi được một tuần thì Tự đùng đùng bỏ về. Bỏ về vì vỗ ngực ta đây là chiến sĩ Trường Sơn và đánh trật xương vai ông đội trưởng, chỉ vì ông này dám phê bình Tự là kỷ luật lao động kém. Từ đó, làm ở đâu cũng chỉ được vài ngày là người ta lại xin kiếu, vì đã lười, dốt, lại hay gây gổ. Lạ là gầy còm, yếu ốm vậy, mà rất hay gây sự đánh người. Ai lại dám cầm cả cái xẻng mà nện vào đầu người ta! Lẽ ra phải ra tòa, nhưng vì xét là thương binh, bị chấn thương sọ não, nên chỉ sa thải và bắt bồi thường tiền.

“Mày quá đáng lắm rồi đấy! Liệu mà tu tỉnh đi”. Sau lần nhận Tự từ trại thương binh, rồi đưa vào viện điều trị về, Lộc chỉ mặt thằng em, cảnh tỉnh và đón bà cụ lên ở với mình. Tự ở một mình. Ở một mình chứng nào tật ấy càng tha hồ ngựa quen đường cũ. Rượu uống tràn. Một mình làm vua, làm giặc trong nhà. Bán hết cái bàn, cái tủ đến cái nhà, rồi đi lang thang, ngủ bờ ngủ bụi, mái hiên, gầm cầu. Bà cụ xót xa cho con quá, đành chắp tay vái tứ phương. Một ông cán bộ bảo: đó là một thế hệ mất phương hướng sau chiến tranh. Một bác sĩ nói: cậu ta bị mất một cái gì lớn lắm nên hụt hẫng, mất thăng bằng. Thêm nữa, tình dục bị dồn nén không được thỏa mãn. Một thầy bói phán: cậu này bị ma ám. Nhìn cái ấn đường biết còn gặp tai biến đấy, cụ ạ. Thế là, hết thuốc Tây lại lá lẩu đông y; cuối cùng bà cụ đi các đền miếu chùa chiền, lập đàn, dâng sớ, đốt hình nhân, đội bát nhang giải cứu cho linh hồn Tự.

Kết cục đâu vẫn hoàn đấy. Vẫn như mọi hôm, trẻ con nó lại réo gọi: “Bà ơi, chú Tự chú í đang diễn thuyết ở ngã ba Bà Triệu - Hàm Long kia kìa”. Bà cụ vội tất tưởi chạy đến. Tự đang đứng giữa vòng trong vòng ngoài những người là người. Áo quần như giẻ lót nồi. Mặt vừa vêu vao, u uẩn vừa ma mãnh. Con ơi, con tỉnh hay mê? Bà cụ gọi. Tự chỉ tay:

 - Bớ Cao Trân, mi đặt điều dối gạt, bất chấp thị phi. Dù mi chạy đến tận chân trời ta cũng bắt được mi.

Tự nói gì mà như đọc tích cổ nước Tầu vậy. Bà cụ ngơ ngác chưa kịp hiểu thì Tự đã xắn tay áo, mặt trắng bệch, sợ hãi và yếu đuối, rên rỉ:

- Bốn bề là lính thủy Mỹ, ta đành từ biệt pháo vậy, pháo ơi! Phải đặt bộc phá. Phá pháo thân yêu của ta, ta xót xa lắm chứ. Nhưng pháo ơi, người có hiểu rằng ta còn chịu sự xót xa, cay đắng hơn thế nhiều không? “Đồng chí Tự, tôi phân công đồng chí mở đường máu”. Thằng Doãn nói thế. Nó lừa tôi, để tôi biến thành ma, để tôi thu hút hỏa lực của bọn Mỹ, cho nó rút an toàn. Bớ Cao Trân! Thế giới này không câm nín với người cần mẫn. Cứ bước đi, ta sẽ tới thiên đường!

Toét! Toét! Hai bóng áo vàng huýt còi chạy vụt tới. Yêu cầu bà con giải tán. Không nghe luận điệu địch. Anh kia tên gì? Ở đâu đến? Bà cụ gào: con tôi đấy, các anh ơi. Mọi người ồn ào. Đúng là thằng tâm thần, trí óc lộn tùng phèo, ký ức sai lệch, đầu Ngô mình Sở, như trẻ nhỏ trong cơn kích động...

 Lê cái chân đau sang nhà hàng xóm, bà cụ âu sầu, rỉ rả:

- Bác ơi, ông bác sĩ hỏi tôi, tôi bảo: nhà tôi cả bên nội lẫn bên ngoại, ba bốn đời ghi trong gia phả, không có ai mắc chứng điên dại cả. Còn thằng này, hồi chưa đi bộ đội, nó ngoan lắm, nết na thùy mị như con gái chứ! Mười sáu, mười bảy tuổi không biết la cà hàng quán, không biết nói tục, đi đâu cũng núp sau lưng mẹ. Mà học giỏi lắm. Các thầy giáo, cô giáo đều quý mến! Nhất là ông giáo Đức dạy sử, thấy cháu học một biết mười, còn nhận cháu làm em nuôi cơ mà. Hôm trước khi đi bộ đội, nó còn gói ghém sách vở, bảo tôi giữ gìn cẩn thận để về sẽ học tiếp: “Con sẽ thành nhà sử học, nhà toán học, hay nhà vật lý. Con sẽ nuôi mẹ đàng hoàng, sẽ đem vinh dự, sung sướng về cho mẹ”. Ý nói là chê trách thằng anh nó giàu có mà bủn xỉn với mẹ đấy, các bác ạ.

Hết mạch chuyện, bà cụ lại gõ cửa nhà khác. Lại phân trần vân vi và thêm lời xin lỗi vì làm ồn ĩ, phiền hà đến bà con xung quanh. Thôi, cũng là vì hoàn cảnh, chứ ai muốn con mình nó thế, hả bác? Bệnh trạng gì mà khổ cho người, khổ cho mình thế. Tôi đến thăm cháu ở quân y viện. Ông bác sĩ giỏi nhất khoa này nói: cụ ơi, cụ thử hình dung thế này nhé. Nhà có năm người. Giả dụ thế. Cả năm người đều sưng phổi, sốt rét. Nhưng vẫn có thể là yên tĩnh. Vậy mà khu phố đông một vạn dân, chỉ cần một người mắc bệnh tâm thần là đủ hỗn loạn rồi. Đó, bệnh này nó phiền phức là vậy. Nhưng, ác cái bệnh này là do cái gì sinh ra, thì chưa ai hiểu cho hết ngọn ngành cả. Nó đâu như cái dạ dày, khúc ruột mà chiếu điện, mà mổ phanh ra để xem tận mắt được.

 Hàng xóm ở đây toàn những kẻ hiểu biết cả, nên thông cảm lắm, nhưng cũng thóc mách tinh quái lắm.

- Cụ ạ! - Họ nói - Tôi nghe chú ấy nói, thấy trong cái giả có cái thật đấy. Chú ấy khôn ra trò. Đọc cả thơ của ông Gớt thi sĩ vĩ đại người Đức đấy chứ. Vậy đâu có phải loại đần ngu không biết gì?

Bà cụ gật đầu:

- Cái đó thì cũng có.

- Bây giờ cách chữa chạy tốt nhất là để cho chú ấy nói ra hết, cụ ạ.

Bà cụ ngây mặt, rồi lắc đầu:

- Nhưng mà tôi biết làm thế nào bây giờ? Tôi chỉ biết thương nó thôi. Tôi nhớ nó lắm. Khổ, hồi chưa đi bộ đội, cháu ngoan lắm, nết na thùy mị như con gái ấy chứ. Mà học giỏi lắm. Thấy cháu học một biết mười, ông giáo Đức dạy sử quý lắm, còn nhận làm em nuôi kết nghĩa cơ mà. Ông giáo Đức người cũ kỹ, ăn mặc xuềnh xoàng, nhưng giỏi giang, trực tính lắm. Có bận thấy ông lãnh đạo tỉnh, thành phố nói sai, còn dám đứng lên cự lại cơ mà. Đấy, nhắc đến ông giáo Đức là lại nhớ đến con.

Lấy khăn tay, bà cụ lau đôi mắt ướt nhoèn.

(Số sau đăng hết)