Củ từ (Phần cuối)
Truyện ngắn của TÔ ĐỒNG (Trung Quốc)
Cuộc hỗn chiến diễn ra khá lâu, cuối cùng Trường Thọ im lặng, không im lặng cũng không được. Tay anh chị thấy dải rút quần của anh ta tuột ra, bèn kéo tụt quần của anh ta xuống ngang đùi, đe nẹt nói: “Mày còn gây sự thì sẽ cứ để như thế này dẫn đến đồn công an, mày sẽ bị bắt về tội lưu manh”.
Trường Thọ cố sống cố chết kéo quần lên, cuối cùng im lặng.
Tay anh chị không dừng lại, họ đẩy đi kéo lại Trường Thọ, rồi lại bắt đầu mắng chửi anh ta: “Không lấy được vợ thì thôi, người nhà quê chúng mày nuôi nhiều lợn như thế, chăn nhiều dê như thế sao không biết làm lợn mẹ, làm dê mẹ thương con, mà lại gả em gái ruột thịt cho người bị bệnh động kinh chứ?”
Rồi họ ném trả dải rút quần cho Trường Thọ: “Mày dùng dải rút quần tự treo cổ mà chết quách đi”.
Trường Thọ không cãi lại, mắt lảng tránh tay anh chị và mấy chàng trai nọ, tựa hồ những lời mắng chửi của họ đều là sự thật. Anh ta cũng không nghe những lời giáo dục chính trị và đạo đức của những cụ già, tựa hồ như họ đang tự giáo dục bản thân họ. Anh ta ngồi bệt trên mặt đất, một chiếc dép bị ai đó đá đi đâu mất, Trường Thọ gạt từng cái chân của người, tìm chiếc giầy Giải Phóng kia của mình. Chiếc giầy ấy ở ngay phía sau bố tôi, Trường Thọ nhoài người nhặt chiếc giầy. Tay anh chị nhanh tay nhanh mắt hơn, liền nhặt lấy, quăng ra xa: “Đi nhặt đi! Nhặt xong không được quay trở lại”.
Tay anh chị đẩy Trường Thọ một cái, bảo: “Đi về phía đông, đến bến xe đường dài, trời sáng là có xe chạy, mày từ đâu đến thì cút về nơi ấy cho khuất mắt chúng tao”.
Xem ra chiếc giầy nọ rất quan trọng đối với Trường Thọ. Chúng tôi nhìn thấy Trường Thọ đứng bên cạnh tay anh chị, phẫn nộ trừng mắt lườm bọn họ. Tay anh chị nói: “Mày trừng mắt nhìn chúng tao làm gì nào? Giầy Giải Phóng vừa bẩn vừa hôi, mày không mau mau nhặt đi, thì chó nó tưởng cứt nó ăn mất đấy”.
Trường Thọ thử đẩy tay anh chị một cái, tay anh chị nhăn nhở cười: “Mày còn dám đẩy ông à, mày không muốn uống rượu mời lại muốn uống rượu phạt à, gây sự nữa tao sẽ quẳng cả người mày đi chứ, mày tin không nào?”
Trường Thọ đi nhặt chiếc giầy, anh ta bước đi hơi tập tễnh, hơi giống bị đau khớp. Chúng tôi nhìn anh ta đi lượm giầy. Bố tôi hơi không yên tâm, nói với tay anh chị: “Cậu dọa như vậy là đủ rồi, hành hạ nó làm gì nữa?” Tay anh chị nói: “Hạng người nhà quê ấy, cần phải chuyên chính vô sản, không chuyên chính được nó, chờ nó trở lại sẽ dọa tiếp”. Mọi người đều tưởng Trường Thọ nhặt được giầy sẽ trở lại, nhưng vượt ngoài dự đoán của mọi người, Trường Thọ chỉ dừng lại ở chỗ xa một lát, rồi đi về hướng đông thật. Anh ta đi rất chậm, một bóng người thấp bé, chậm chạp di động dưới ánh đèn đường phố Hương Xuân Thụ. Mọi người đều tưởng Trường Thọ bị thuần phục rồi, thì đột nhiên một tiếng kêu thê thảm chói tai lại nổ tung từ xa: “Thái Tụ! Thái Tụ! Đồ chết tiệt mày ra đây”.
Anh ta lại bắt đầu réo tên em gái, lúc này là tiếng kêu dọc theo đường phố giữa đêm khuya, cho nên nghe rờn rợn, kèm theo tiếng vọng từ thinh không. Tôi nhớ rất rõ, từ rất xa có thể vẫn nghe thấy tiếng kêu nấc nghẹn của Trường Thọ, sau những tiếng nấc nghẹn ngào khiến mọi người đồng tình, lại là tiếng kêu rờn rợn: “Thái Tụ! Thái Tụ! Đồ chết tiệt mày ra đây, về nhà với tao”.
Mấy ngày sau, chị tôi đem ảnh đến ngõ Tiểu Liễu. Vất vả lắm chị mới tìm ra nhà của Củng Ái Hoa, song không nhìn thấy Củng Ái Hoa, cũng không thấy Thái Tụ, chỉ nhìn thấy bà của Củng Ái Hoa, qua cửa sổ nhà bếp.
Bà của Củng Ái Hoa cũng đang cạo vỏ củ từ ở trong bếp. Chị tôi nói chị vừa nhận ra đó là củ từ mang từ Cố Gia Trang đến, mòng mọng, tròn tròn, đuôi màu phấn hồng. Nhìn thấy củ từ của Cố Gia Trang tức là nhìn thấy người từ Cố Gia Trang đến. Nhưng, chị tôi không thể gọi Củng Ái Hoa từ trên gác xuống. Bà của Củng Ái Hoa tóc bạc trắng đầu, có thể bà già đã lẩn thẩn, cũng có thể vẫn còn thông minh tinh tường.
Từ ngoài cửa sổ, chị tôi nhìn vào bên trong, bà lão lặng lẽ chăm chú nhìn ra bên ngoài, theo dõi cẩn mật chị tôi. Khi chị tôi gọi tên của Củng Ái Hoa, bà già ấy mới lập cập đứng dậy: “Đừng gọi to như thế! Hàng xóm có người đi làm ca đêm bây giờ còn đang ngủ đấy”. Cách cửa sổ, bà già vội vàng xua tay nhắc chị tôi: “Củng Ái Hoa không có nhà, nó rất bận, lại vừa đi lên tỉnh họp rồi”.
Chị tôi nói chị nhìn thấy mặt một cô gái tóc ngắn chạy qua cửa sổ trên lầu, chị tôi nghi đó là Củng Ái Hoa, hơn nữa trên chiếc giá phơi quần áo trên gác có một chiếc nịt vú màu hồng mà những phụ nữ trẻ thường mặc, vẫn còn đang nhỏ nước, điều ấy càng làm cho chị tôi nghi ngờ hơn. Chị tôi không biết vì sao Củng Ái Hoa lại không có nhà như vậy. Chị tôi đành phải hỏi bà già về tình hình của Thái Tụ, bà già càng cảnh giác hơn, bà già hỏi chị tôi: “Cô là ai? Từ đâu đến?” Câu hỏi đơn giản thôi mà làm cho chị tôi khó xử. Chị không nói rõ mình là ai, cơn giận nổi lên, chị bèn quăng tấm ảnh của Thái Tụ lên mặt chiếc bàn ở gần cửa sổ: “Cháu không rỗi hơi lo việc của người khác, cháu là người đến trả ảnh”. Đã ném ảnh vào rồi, chị tôi vẫn chưa yên tâm, tiến đến thềm cửa sổ, thò tay vào ngăn bà già, lấy lại một tấm ảnh từ trong bao giấy nhỏ, nói: “Người ta chụp được tấm ảnh này không dễ dàng đâu. Thái độ của gia đình cụ như thế này khiến cháu không yên tâm, xin giữ lại một tấm ảnh cho cô ấy vậy”.
Sắp ra về, chị tôi mới nghe được tin tức cuối cùng về Thái Tụ. Tin này do bà của Củng Ái Hoa tiết lộ, bà già tỏ ra nửa tin nửa ngờ về chuyện của Thái Tụ, hoặc giả nói bà hoàn toàn hiểu nhầm vai trò của Củng Ái Hoa trong việc này.
Từ trong cửa sổ nói vọng ra, bà già phê bình chị tôi rằng: “Các người không nên coi Ái Hoa nhà ta như cái bia đỡ đạn, chuyện phiền phức gì cũng tìm nó. Chuyện hôn nhân của con gái nhà người ta cũng yêu cầu nó lo liệu ư? Các người không có lòng tốt, thấy Ái Hoa tiên tiến, cố ý làm ảnh hưởng đến nó”.
Chị tôi bị bà già phê bình đến vò đầu bứt tai, đứng tại chỗ trơ mắt nhìn. Bà cụ giận dữ ném đuôi củ từ ra, nói: “Cháu đừng trợn mắt nhìn ta, chuyện của cô gái nhà quê ấy không thuộc phận sự giải quyết của Ái Hoa nhà ta mà thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ giải quyết, cháu cần tìm cô ta thì đến Hội Liên hiệp phụ nữ mà tìm”.
Tin Thái Tụ đi đến Hội Liên hiệp phụ nữ là do chị tôi đem về.
Sau này, chúng tôi biết Thái Tụ đúng là có đến phòng làm việc của Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố. Bố của Củng Ái Hoa dẫn cô ấy đi, ông cũng là cán bộ cơ quan, hiểu biết tường tận nhất cơ quan nào giải quyết vấn đề gì, đơn vị cấp trên nào chủ quản đơn vị cấp dưới nào. Song, rất rõ ràng, Hội Liên hiệp phụ nữ chỗ chúng tôi nhất thời không có cách nào giải quyết nổi chuyện rắc rối của Thái Tụ. Bố của Củng Ái Hoa bảo Thái Tụ trực tiếp phản ảnh tường tận tình hình của cô ấy với cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ, vì ông phải lo đi làm. Ông còn vẽ cho Thái Tụ một tấm bản đồ đường về nhà mình, bảo cô tự tìm đường về nhà.
Họ nói Thái Tụ hôm ấy ngồi ở trong trụ sở của Hội Liên hiệp phụ nữ, ngồi rất lâu, cũng nói trong thời gian rất lâu, người bên cạnh đều không biết cô ấy đang nói chuyện của mình, tưởng như cô ấy miêu tả vụ hôn nhân của một người khác vậy. Sau đó, cô ấy bị dẫn ra khỏi trụ sở, song cô không ra, cứ im lặng ngồi trên một chiếc ghế băng dài, nghe một đôi nam nữ đòi ly hôn đang kể tội nhau, bới móc bí mật đời tư của nhau ở ngoài hành lang. Cô ấy còn tới khuyên bên nữ mấy câu, khuyên gì người khác cũng không hiểu.
Sau đấy, khi cơ quan hội liên hiệp phụ nữ hết giờ làm việc, chị em cán bộ đều ra về, một chị cán bộ ở phòng tiếp dân đi qua cầu Sư Tử sắt, trông thấy cô gái từ Cố Gia Trang tới ấy đang ngồi ở dưới gầm cầu Sư Tử sắt, vừa uống nước chè nóng giá một hào một cốc, vừa ngó đông nhìn tây xem tấm bản đồ vẽ trên giấy viết thư nọ. Chị cán bộ xuống thuyền buôn gạo đậu ở dưới gầm cầu mua một bao gạo, lúc từ thuyền đi lên về nhà, liếc nhìn quán nước, vẫn thấy Thái Tụ ngồi ở đấy, song nỗi bi thương của Thái Tụ đã giống như ánh bình minh lên xóa mờ đi. Thái Tụ cầm chén chè mà khóc, nhìn những người qua lại trên cầu Sư Tử sắt mà khóc. Người chủ quán trà và những người đi đường nhiệt tâm đều xúm quanh Thái Tụ, họ cho rằng cô gái nhà quê này đang khóc vì lá thư nọ. Nhưng tờ giấy viết thư được mở ra, những người nhiệt tâm ấy nhìn thấy một tấm bản đồ đơn giản vẽ nguệch ngoạc bằng bút bi. Chị cán bộ phụ nữ do dự một lát, cuối cùng vẫn vội vàng về nhà nấu cơm tối, bởi vì chị nghe thấy có người nhiệt tâm đứng lên nói: “Ngõ Tiểu Liễu ư? Cô cần đến ngõ Tiểu Liễu ư? Tôi biết, tôi dẫn cô đến đấy”.
Hiện tại chúng tôi đều biết, sau đấy người nhiệt tâm ấy đâu có dẫn Thái Tụ trở về nhà Củng Ái Hoa. Đây là một kết cục khiến mọi người không thể hiểu nổi, cho đến bây giờ, những người có liên quan đến chuyện này vẫn còn đang tranh luận, người dẫn đường ấy cuối cùng là ai? Cuối cùng ông ta dẫn Thái Tụ đi đến đâu mất rồi. Sau đó Trường Thọ không tìm thấy em gái, anh ta gây náo loạn ở nhà Củng Ái Hoa hai ngày, không thấy bóng dáng của Thái Tụ. Củng Ái Hoa trước sau cũng không lộ diện, trái lại người của đồn công an tới, chiểu theo những văn bản hữu quan, họ cưỡng bức áp tải Trường Thọ đến bến xe khách đường dài, tống anh ta về quê.
Phía chúng tôi sau này không có ai trông thấy Thái Tụ nữa, chị tôi có một hôm trở về nói với mẹ tôi, chị nhìn thấy một cáo thị tìm người dán ở dưới gầm cầu Sư Tử sắt, cần tìm Thái Tụ.
Mẹ tôi nói: “Thái Tụ mất tích rồi, đương nhiên phải dán cáo thị”. Song chị tôi òa khóc, vừa khóc vừa kêu: “Ôi tấm ảnh ấy, tấm ảnh”.
Mẹ tôi bỗng hiểu ra, hiểu ra rồi mặt tái xám tái xanh, nói: “Bây giờ mày lại biết khóc à? Tại mày dắt nó đi chơi, mày lại cứ dắt nó đi chụp ảnh, tại sao cứ phải chụp tấm ảnh ấy chứ? Vì sao nào? Chụp tấm ảnh ấy làm gì? Hử? Hử?”
Mẹ tôi xúc động vặn hỏi chị tôi, cũng như tự hỏi mình đến phát khóc lên. Kết quả mà hai mẹ con suy diễn theo lô gích thật trầm trọng, chị tôi thoát không khỏi liên can, vì vậy mẹ tôi về đạo nghĩa chịu áp lực nặng nề. Nhằm giảm bớt áp lực, mẹ tôi tất nhiên phải trách cô tôi. Kết quả cuối cùng có thể nghĩ ra, mẹ tôi và cô tôi cắt đứt quan hệ đi lại. Hai gia đình chúng tôi ở gần nhau như vậy, cùng ở trên phố Hương Xuân Thụ, cô tôi là em ruột của bố tôi, bố tôi là anh ruột của cô tôi, nhưng hai gia đình chúng tôi lại cắt đứt quan hệ đi lại như thế.
Thái Tụ sau đấy lên một chiếc thuyền buôn củ từ, trở về Cố Gia Trang. Tin này là xác thực, nên khiến gia đình nhà tôi và gia đình cô tôi đều mừng rỡ một phen. Chỉ có điều trong mấy ngày bặt tin Thái Tụ, cuối cùng cô ấy sống ở đâu, sống như thế nào, sống cùng với ai, những chi tiết này trước sau vẫn là một nghi án không có đầu mối, đại gia đình chúng tôi không rõ một tí nào.
Anh họ tôi nói sau này Thái Tụ thực hiện lời hứa của gia đình, đã lấy người đàn ông trung niên bị bệnh động kinh ấy.
Khi về nhà nghỉ Tết nguyên đán, anh họ tôi còn nói cuộc hôn nhân của họ không tồi. Anh đã trông thấy Thái Tụ và chồng cô ấy đi chợ, vợ mua gà con, chồng mua cuốc xẻng, trên đường một người đi trước một người đi sau.
Đến ngày Tết Lao động quốc tế 1-5 trở về, anh họ tôi không chịu nhắc đến cái tên Thái Tụ nữa, hỏi mãi mới được tin khiến mọi người kinh hoàng: Thái Tụ uống thuốc sâu tự sát.
Anh họ tôi nói, Thái Tụ chết rất có kế hoạch, cô ấy phun thuốc trừ sâu trong vườn rau, phun xong thuốc trừ sâu, người khác nhìn thấy cô ấy cầm cốc nhựa ngồi ở trong vườn, đều ngỡ cô ấy đang uống nước, bèn hỏi: “Thái Tụ, vừa nhìn thấy chị uống nước, tại sao lại uống nữa?” Thái Tụ nói: “Hôm nay trời nóng quá, khát chết người”. Thái Tụ uống nửa cốc thuốc trừ sâu trước mặt mọi người.
Bên nhà cô tôi, bên nhà tôi đều choáng váng bởi tin này. Anh tôi nói sang chuyện đồn đại ở nông thôn, có người nói khi Thái Tụ chết có thể đã có mang, mọi người đều nghi đứa bé trong bụng Thái Tụ là con hoang, không phải con của người đàn ông bị bệnh động kinh.
Cô tôi lập tức gào lên: “Bệnh động kinh không ảnh hưởng gì đến sinh đẻ, không phải con của anh ta thì là của ai chứ?”
Sau đó mọi người đều im lặng. Nhớ lại quãng thời gian Thái Tụ mất tích, nhớ lại cô ấy mang một bí mật trở về Cố Gia Trang, bỗng không ai dám nói gì nữa. Mỗi người đều cố che giấu nội tâm hoảng loạn, song không giấu được thái độ mang vẻ phạm tội của mình.
Sau đó, cô tôi bỗng đứng dậy, nói một câu khiến mọi người được giải thoát. Cô tôi nói rằng: “Tự vấn lòng mình, chúng ta không có lỗi, không hổ thẹn với Thái Tụ , Thái Tụ số nó khổ, chẳng trách người khác được! Nếu có trách là trách Củng Ái Hoa, chẳng phải cô ta gây ra rắc rối này ư? Thái Tụ cũng không đáng rơi vào kết cục bi thảm như vậy”.
Dân cư ở khu phố Hương Xuân Thụ này có thói quen để ảnh của người thân bạn bè ở dưới tấm kính phủ trên mặt bàn. Tấm ảnh của Thái Tụ luôn được đặt ở phía dưới tấm kính mặt bàn của nhà tôi, thường ngày trên vị trí ấy đặt một lọ hoa giấy, lọ hoa giấy suốt năm che trên tấm ảnh của Thái Tụ, như che đậy một bí mật đời tư, không nỡ bỏ đi, cũng không muốn để lộ ra.
Chúng tôi có cuộc sống thường nhật bình thường tẻ nhạt mà bận bịu nặng nề, ai còn vô cớ nhớ đến một cô gái nông thôn ở Cố Gia Trang chứ? Chúng tôi cơ hồ đã quên bẵng Thái Tụ rồi.
Cho mãi đến năm ấy chuyển nhà, khi tôi và chị tôi dọn dẹp những tấm ảnh để dưới tấm kính mặt bàn, đột nhiên nhìn thấy tấm ảnh của Thái Tụ, nhất thời chúng tôi đều không nhớ ra người trong tấm ảnh là ai. Tôi cố cẩn thận bóc tấm ảnh đã dán chặt vào tấm kính, lẩm bẩm tự hỏi: “Người nào nhỉ, mặt sao quen thế?”
Chị tôi đột nhiên kêu lên: “Thái Tụ đấy! Tại sao ảnh của chị ấy còn để ở dưới này nhỉ?’
Thế là, tôi nhớ đến Thái Tụ, chẳng hiểu vì sao, nhớ đến Thái Tụ là tôi lại nhớ đến củ từ. Hồi nhỏ tôi không thích ăn củ từ, nhưng củ từ xào thịt tôi lại thích. Bây giờ đã vào tuổi trung niên, tôi không ăn củ từ, củ từ xào thịt cũng không ăn nữa.
VŨ PHONG TẠO dịch