Cái chết tóm lấy cái sống

Hoài Nam 22/12/2010 00:00

Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ là một cuốn sách hấp dẫn bởi tri thức trên nhiều lĩnh vực của tác giả. Hấp dẫn bởi năng lực lật xới vấn đề, sự nhạy bén của trực giác nghiên cứu, sự không chấp nhận trước những kết luận đã trở nên “bất khả tư nghị”…

Cuốn sách Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ (NXB Tri Thức, 2010) của tác giả Trần Ngọc Vương gồm năm phần: Từ góc nhìn kinh tế - xã hội; Tâm thức cộng đồng, lịch sử và lịch sử tư tưởng; Văn hóa - khoa giáo; Một góc văn chương; Mấy bức chân dung. Năm phần, tương ứng với bốn “con mắt nhìn” khoa học về Việt Nam từ khởi thủy đến nay: kinh tế chính trị học, sử học và triết học lịch sử, văn hóa và giáo dục học, nghiên cứu văn học. Mỗi phần được cấu thành từ nhiều bài viết, tuy khác nhau về thời điểm, bối cảnh ra đời cũng như sự quan tâm của tác giả trên những vấn đề cụ thể, song khá nhất quán về phương pháp và quan điểm nghiên cứu. Đó là phương pháp liên ngành, vận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực - thậm chí cả một lĩnh vực rất xa các khoa học xã hội nhân văn như địa chất học - để soi chiếu vào một đối tượng. Đó là quan điểm về sự sống, sự đeo bám dai dẳng, sự chế định và sức tác động mạnh mẽ tới hiện tại của những quan hệ, những hình thái đã từng xuất hiện trong quá khứ. “Cái chết tóm lấy cái sống” (Le mort saisit le vif), khái quát mang tính chất một châm ngôn ấy của K. Marx đã được tác giả Trần Ngọc Vương chứng minh, một cách khá thuyết phục, qua việc nghiên cứu “thực thể Việt” trên những vấn đề rất đa dạng, như: hình thái kinh tế xã hội và kết cấu giai cấp trong lịch sử, quyền sở hữu của cộng đồng Việt, cái nghịch lý vừa vô cùng cần nước vừa rất sợ hãi nước trong tâm thức người Việt, sự chấn hưng văn hóa tộc họ trong đời sống hiện nay, việc kiến tạo một xã hội học tập và một nền khoa học xã hội nhân văn ở Việt Nam thời hội nhập v.v... “Cái chết” ấy, có thể nhận diện nó qua sự nhấn mạnh nhiều lần của tác giả về ba đặc điểm quan trọng của Việt Nam trong quá khứ: một xã hội có kết cấu cư dân theo đơn vị huyết tộc (dòng họ), một chế độ chuyên chế thượng tôn ngôi vị hoàng đế và quyền vương hữu tuyệt đối được coi là ý niệm lập pháp tối cao, một học thuyết đạo đức (Nho giáo) đóng vai trò ý thức hệ tư tưởng thống trị suốt gần mười thế kỷ. Rất nhiều vấn đề - nói đúng hơn, vấn nạn - gây nên những trăn trở lớn trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa Việt Nam hiện nay, theo cách ít ngờ tới nhất, hóa ra bị quy định, bị chế ước bởi ba đặc điểm tưởng như đã một đi không trở lại kia. Xin trích một đoạn, khá dài, làm ví dụ: “Hàng nghìn năm dưới pháp quyền vương hữu, bất chấp vô số những chiếu dụ, huấn lệnh, những lời cam kết bảo trợ thần dân của vua chúa, ruộng đất công vẫn cứ bị xà xẻo, chiếm dụng, tư hữu hóa “bất hợp pháp” để rồi dần dà lại được thừa nhận trong thực tế. Diễn biến về đất đai trong chưa tới vài chục năm vừa qua kể từ ngày đổi mới há chẳng phải là sự tái sinh theo lối mòn của cái cung cách ứng xử cũ đó sao: Nhà nước vẫn cứ tuyên bố quyền sở hữu toàn dân về đất đai, mà việc giao dịch, mua bán, sang nhượng, đầu cơ... vẫn cứ được tiến hành “như chỗ không... luật pháp”, và rồi lại phải thừa nhận thực tế! Một lần nữa, tôi nhắc lại: sự mơ hồ về lý luận đã đẻ ra sự tùy tiện trong thực tiễn” (Bài Về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất, tr 69, 70). Trên ý nghĩa này, Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ của Trần Ngọc Vương là cuốn sách nên đọc đối với các bậc thức giả, những người thực sự muốn có đáp án cho câu hỏi: quốc gia dân tộc này trước kia như thế nào, bây giờ ra sao và nó có thể sẽ là gì trong tương lai? Nhưng trước hết, đây có lẽ là cuốn sách nên đọc đối với những người lãnh đạo - “những người có trách nhiệm”, như một câu đã trở nên nói quen miệng nghe quen tai - đặng có sự tham khảo cần thiết trong việc định hướng cho sự phát triển của đất nước.

 Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ còn là một cuốn sách hấp dẫn (xin nói thêm: sự hấp dẫn của cái khó). Hấp dẫn bởi tri thức trên nhiều lĩnh vực của tác giả. Hấp dẫn bởi năng lực lật xới vấn đề, sự nhạy bén của trực giác nghiên cứu, sự không chấp nhận trước những kết luận đã trở nên “bất khả tư nghị”, khả năng “gây sốc” khi tác giả đưa ra những giả thiết hoặc những phán đoán táo bạo buộc người đọc phải tư duy về đối tượng theo đúng như những gì nó có. Vấn đề phương thức sản xuất châu Á, vấn đề cấu trúc giai cấp, cái gọi là chủ nghĩa phong kiến ở Việt Nam, vai trò của vị “Nam man đại trưởng lão” Triệu Đà trong lịch sử dân tộc, bản chất của các phong trào “nông dân khởi nghĩa” trong thế kỷ XVIII, kích thước thực của nhà thơ - nhà lý học - danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm v.v... đó là những “cú sốc” thú vị mà độc giả không ít lần được trải nghiệm từ việc đọc cuốn sách của Trần Ngọc Vương. Đặc biệt - chí ít là đặc biệt với người viết bài này - không ít những vấn đề thuộc vào loại gai góc như vậy nằm trong sự quan tâm của tác giả từ rất sớm, khi ông còn rất trẻ. Hai bài Tính cụ thể lịch sử với việc xây dựng lý luận cho thời kỳ quá độ ở Việt Nam (in lần đầu trong Tạp chí Triết học số 2, tháng 6/1983) và Hình thái kinh tế - xã hội và kết cấu giai cấp trong lịch sử Việt Nam, mấy điểm đặc thù (báo cáo khoa học tại Hội nghị triết học toàn quốc Những vấn đề lý luận của thời kỳ quá độ, Hà Nội, 1983) được Trần Ngọc Vương viết khi ông mới 28 tuổi, và phải chờ tới ba năm sau thì “gió đổi mới” từ Đại hội Đảng VI mới bắt đầu thổi. Thế nhưng ngay lúc đó, nhà nghiên cứu trẻ đã tiến hành phê phán, ở tầm lý luận, việc bê nguyên xi học thuyết về hình thái kinh tế xã hội và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Marx vào Việt Nam để mô tả, giải thích những quá trình, những hiện tượng của lịch sử Việt Nam. Đến nay, nếu tôi không chủ quan, những suy nghĩ, kiến giải của Trần Ngọc Vương về câu chuyện “nhức đầu” này dường như vẫn còn nguyên tính thời sự

 Chuyên môn hẹp của tác giả - ông là nhà nghiên cứu văn học Việt Nam trung cận đại, hiện đang giữ vị trí chủ nhiệm bộ môn Văn học dân gian - trung cận đại thuộc khoa Văn học, trường Đại học KHXH & NV Hà Nội - được thể hiện tập trung trong phần 4 cuốn sách: Một góc văn chương. Điều đáng chú ý ở phần này không phải nằm ở sự nghiên cứu những vấn đề văn học cụ thể, mà là ở nỗ lực vạch ra những nét lớn cho việc biên soạn một công trình văn học sử Việt Nam, mới và khác rất nhiều so với những công trình văn học sử đã có. Trong phần này, nếu không kể bài Tiến tới lập hệ quy chiếu mới cho việc nhận thức lại văn chương truyền thống là bài mang tính giới thuyết, thì hai bài viết công phu - Văn chương yêu nước của các nhà nho chí sĩ đầu thế kỷ XXMột tác giả điển hình cho văn học Việt Nam giai đoạn giao thời - Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939) - theo thiển ý của tôi, dường như là hai chương trọn vẹn, có trước, cho bộ văn học sử kia. Cần phải có ít nhất một bộ văn học sử Việt Nam mới. Đây chính là yêu cầu đang trở nên ngày một cấp thiết đối với giới nghiên cứu văn học Việt Nam. Và một lần nữa, Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ lại tỏ ra là một cuốn sách tham khảo nên đọc, cần phải đọc.

 Trần Ngọc Vương khép lại Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ bằng bài viết về vị ân sư đã quá cố của ông, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu (1926 - 1994), người mà từ sau khi mất đến nay, mỗi ngày giới khoa học xã hội Việt Nam lại thấy cái bóng của ông phủ rộng hơn một chút. Một bài viết thể hiện niềm yêu kính và sự tri ân với thầy, điều đó dễ thấy và cũng dễ hiểu. Song không chỉ là vậy, không chủ yếu là vậy. Bài Trần Đình Hượu, nửa thế kỷ tìm biết với những niềm khắc khoải trí thức của Trần Ngọc Vương còn đậm ý nghĩa là cuộc đối thoại giữa một nhà khoa học với một nhà khoa học, giữa một người tìm biết với một người tìm biết, tìm biết thực thể Việt đã là gì và có thể sẽ là gì? Trong đối thoại có sự chia sẻ, chia sẻ với thầy ở việc - vì nhiều lý do “tế nhị” - chỉ thực sự yên tâm làm nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu của mình trong khoảng mười năm cuối đời: “Nhưng rõ ràng, chỉ thực sự có được sự bình tâm để suy tư vào lứa tuổi mà đối với hầu hết những người lao động khác, kể cả lao động khoa học, là tuổi “hồi hưu”, thì hẳn đó là điều đáng tiếc, hết sức đáng tiếc”. (Có lẽ điều này cấp thêm một lý do để cuốn sách trở nên cần được “những người có trách nhiệm” đọc hơn, đặng quản lý và sử dụng người làm khoa học sao cho có hiệu quả nhất). Chia sẻ ở cả tình huống: “Là nhà tư tưởng, nhà triết học xét theo thiên hướng tinh thần và chuyên môn được đào tạo, ông kiên trì tuân thủ nguyên tắc khách quan hóa của khoa học và đòi hỏi mang tính phương pháp luận là suy tư bằng trí tuệ tự do (tư duy là tối thượng - như cách diễn đạt của F. Engels). Là một đảng viên cộng sản, ông cũng tự đòi hỏi mình phải thực thi nghiêm túc tất cả những yêu cầu, những quy định của tổ chức đã ghi trong Điều lệ. Sự kết hợp “hai trong một” như vậy không phải bao giờ cũng diễn ra suôn sẻ, dễ dàng, và ở những tình huống nhất định, ông không tránh khỏi rơi vào bi kịch” (Bài đd, tr 524). Phải đọc trực tiếp bài viết thì có lẽ mới thấy hết được tính đối thoại và sự chia sẻ giữa người viết và người được viết ở đây. Nhưng từ một góc hẹp hơn, qua bài viết này, Trần Ngọc Vương cũng gián tiếp chuyển từ thầy mình tới những người ít nhiều đang thực hành nghề viết một lời dặn chắc chắn không bao giờ thừa: “Viết gì thì viết, chỉ đừng viết những điều mà về sau phải mất công sức nhiều để đính chính”. Thêm một “cái lý” nữa để Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ là cuốn sách đáng đọc, nên đọc.

Hoài Nam