Cửa Bắc (Phần cuối)
Truyện ngắn của Nguyễn Anh Vũ
Nhìn quanh, thành trì, cung điện bao đời giờ chẳng còn chi. Giặc phá đằng giặc, người ta phá đằng người ta. Triều sau phủ xóa triều trước. Xây lên rồi phá. Thăng Long xưa giờ là thế này đây. Thảm chưa kìa!... Ta hằng muốn phục dựng tháp Đại Thắng Tư Thiên. Nay đã thành món nợ với sĩ phu đất Bắc, không còn dịp để trả. Xin đắc tội! Các vị ở lại hằng nuôi tiếp mộng chung đó! Nước Nam này sẽ có ngày sạch bóng ngoại xâm. Tháp Đại Thắng Tư Thiên phải được cất lên, dâng lên tấu khúc khải hoàn, tạ ơn trời, tri ân trăm họ...
Tiếng nổ lộng trời. Kho thuốc súng tan tành. Kẻ nào đốt kho thuốc súng? Hay trong thành có giặc từ lâu nay?
Trận nát.
Quân vỡ.
Gạch ngói nát nhuyễn. Xác lính trộn xác dân. Máu lầy với đất, sệt quánh cả một vùng. Hào lũy hóa dòng sông đỏ quây nghẹt bốn mặt thành.
Hết rồi! Vậy là hết rồi ư?
. . .
“Đức ông! Quân Phú Lãng vào tới nơi rồi!”
Khuôn mặt tên lính trống kia sao mà giống trai thứ con ta. Độ này năm ngoái, trai thứ ra đây tìm cha, gặp lúc ta sang Sơn Tây bố phòng với ông Nguyễn Hữu Độ. Hắn tìm theo tận nơi. Hỏi, cớ gì ra đây? Thưa, mẹ và anh em con cả năm không gặp cha, lại tin ngoài này tiết khí thất thường, sức người đương ngần ấy công cán sao đặng… con vâng mẹ ra Bắc lo ở bên cha… chẳng biết được mấy chốc, con cũng chỉ muốn được gần người mong tròn chữ Hiếu… Đức ông cả giận. Mi! Thi đậu, được bổ nhiệm không lo bổn phận với triều đình là sao? Nghĩ bụng, đất này đầy bất trắc, lụy mình ta là đủ… Bữa cơm đó, cha con lặng im uống rượu, bát cơm gắp đầy cho nhau còn nguyên. Hôm sau, cha ở, con về nhậm nhiệm cho vừa ý cha. Nào đâu biết, đó là bữa cơm cuối cùng với thân nhân… Giờ, còn ngươi, tên lính trống này là thân cận nhất.
“Đức ông! Quân Phú Lãng vào tới nơi rồi!”
“Ngươi chạy đi. Còn muốn theo binh nghiệp thì tìm về phủ Hà Ninh hoặc lên Sơn Tây. Quân của ông Hoàng Kế Viêm trên đó còn vững. Hà thành không giữ được nữa rồi. Mà ý triều đình đã vậy thì ngày mất xứ Bắc này hẳn cũng không xa. Thôi, ngươi về quê thì hơn.”
“Lạy Đức ông! Xin Đức ông cho con ở lại bên người. Về quê, lính bọn con bơ vơ như những con ngựa chiến già quen hơi trận mạc, không còn chủ để mà tận tụy. Đau lắm!...”
Ừ, quân tướng gì thì cũng như mấy con ngựa chiến cả thôi. Đạn lửa ngoài sa trường thì oai phong lẫm liệt. Bình yên về quê, cày không biết, kéo cũng không, lơ ngơ sống vịn vào những chiến tích xưa. May ra còn mấy kẻ cùng tàu nhìn nhau an ủi, mấy ai đã được chủ ngó ngàng. Bại cũng thảm, thắng cũng có khi đau... Mà giờ, bại này là tội của ai? Của ta! Thất thủ mất rồi!... “Ngươi đi đi!”
“Còn Đức ông, con quyết không bỏ thành! Thôi, để con đánh trống trận, hầu Đức ông thưởng”... Đức ông ơi! Ơn trời, cho con được ở gần người tới lúc tận tuyệt!...
“Ngươi có biết trống Tuồng không? Ta thích vỉa trống trong trò Khương Nghinh Tá biệt Đổng Kim Lân, cũng là trống trận”.
Tên lính trống cung kính dâng cặp dùi ngang chân mày, gập người xá Hoàng Diệu ba xá. Người gỡ dải lụa thiên thanh trên đầu ra, lộ mái tóc xám chì thuốc súng. Tặng ngươi! Ta ơn ngươi! Tên lính trống khuỵu xuống để người thắt dải thiên thanh đó lên mái đầu đang xanh nhưng nhức.
Cửa Bắc. Khói đen, tàn đỏ từ kho thuốc súng ngùn ngụt bốc lên. Những lưỡi khói dần liếm kín trời. Hơi lửa bốn bề hun nung làm biến ảnh, dị dạng vạn vật. Thành quách tơi bời. Những mảnh thân rồng gạch, rồng đá vỡ như loang nhòa, tan chảy. Tay lính trống hướng mặt ra ngoài thành, nghiến chặt mắt, vung những nhịp trống dạo đầu, rồi khỏa những nhịp thưa, dồn nhịp mau. Bàn tay, cánh tay, khuôn mặt căng tức máu, đỏ bầm. Mống mắt mọng như trăm năm lệ đọng. Y đánh trống, chơi trống hay múa trống? Không biết! Nhưng toàn thể phách thăng hoa tột độ. âm thanh rung lên bởi từng ngóc ngách ruột gan, xương thịt. Mái đầu vung xoáy. Dải lụa thiên thanh xoay cuồng xoắn lốc. Dùi quất muốn cháy mặt thưng.
Hoàng Diệu lặng hồi lâu trong tiếng trống. Rồi, người xá tạ tên lính trống ba xá. Tri ân! Đi.
Từ bao giờ, trên hốc mắt thấy đọng hai giọt lệ. Đỏ như hai giọt hồng lạp.
Liên miên những hồi đổ. âm trống hối buốt, sôi quặn, hừng hực. âm siết, tiếng thét. âm tốc, móng chiến mã guồng. âm tang, giáo gươm lâm chiến. âm táng, thần công nổ. âm phất, gió trận kỳ... Ngoài xa, hình như quân Phú Lãng đang dừng bước, đạn pháo cũng ngưng...
. . .
Hoàng Diệu tới cửa Võ Miếu. Cây đa cổ thụ bị đạn đại bác cháy đen gần hết. Chỉ còn lại một nhánh vẫn tươi. Những búp đa tháng ba, nõn rói đỏ như vạn ngòi bút lông ngậm đẫm mực son. Người thắp một nén nhang xong, quay mặt tượng Quan Công vào trong.
Ra sân, Đức ông quỳ xuống, vái vọng về phương Nam.
. . .
Phương ấy là thành Phú Xuân. Nơi có người mà ta không rõ phải gọi là gì. Một vua Tự Đức mà ta vẫn thờ một dạ. Một Hồng Nhậm tri âm trọng nhau tài thi phú. Một kẻ đứng đầu triều đình bạc nhược, cam lòng bội tín với tôi trung. Không biết giờ Hoàng thượng đã tự khắc bia sử xong chưa?
Phương ấy là làng Xuân Đài, nơi có hai nấm mồ cha, mẹ. Bao lâu rồi ta không về thắp lấy một nén nhang.
Phương ấy là vợ hiền, đếm ngày được ở bên chồng còn ít hơn những năm làm vợ, lấy việc thờ nghiệp binh lửa của chồng bù cho nghĩa Tào Khang. Là các con ta, vì không được gần cha, phải lấy Trung làm Hiếu.
Gan ruột này ai hiểu? Lòng đỏ thôi đành phơi dưới ánh nhật minh.
. . .
Giờ Ngọ. Mồng tám, tháng ba, Nhâm ngọ - Tự Đức năm thứ 35.
Mây càng lúc càng quánh lại. Chỉ thấy nhờ nhờ sáng đục chân trời màu da bát. Cơn giông mạnh dần lên. Cành đa quằn quại, khua những búp đỏ lên trời, vung những nét cuồng thảo.
Một đường kiếm. Một tia chớp lóe.
Đồng tử không giãn, trừng trừng dõi đất trời.
Giữa trưa mà tối đen như đêm tháng Chạp.
Tiếng trống vẫn dồn. Tên lính ấy vẫn còn đánh trống trên Cửa Bắc. Vẫn lắc múa cái đầu thắt dải thiên thanh đó. Có tiếng trống rung lên bởi gõ dùi. Có tiếng trống vang lên bởi nước mắt hắn rơi. Mười đầu ngón tay tức ứ đã bật vỡ từ bao giờ. Hai tay dùi và mặt thưng đỏ sũng. Mỗi lần dùi dện xuống lại bung lên một quầng sương máu. Trên mưa, dưới lửa.
Giữa hào nước bầm tía, búp bạch liên nở trái mùa.
. . .
Tối quá! Ánh sáng chỉ còn mờ.
Giọng kèn sôna lại bay tới, ngân căng bất tận. Tắt sáng đến nơi rồi... Và lúc giọng kèn vút đẫy đỉnh âm vực, thì một tiếng nổ lớn. Chỉ thấy một tia lửa điện phóng thẳng lên trời, phá thủng ra một khoảng lớn giữa vòm mây đen đặc.
Khắc đó, mưa ngừng rơi. Không! Giăng khắp không gian ngưng lặng là triệu triệu li ti nước.
Im phắc.
Giữa tàn mây thủng, màu thiên thanh mở ra một quầng thăm thẳm.
Ánh sáng.
Vạn vật bắt đầu chuyển động, rực lên qua màu lệ đỏ.
Những giọt mưa như được một hấp lực mãnh liệt nào đó hút lên. Một trời nước dâng ngược, lớp lớp tiếp lớp lớp.
Những giọt nước nhỏ trên mặt đất giật chụm, gom thành giọt lớn thút lên không trung, kéo theo những bùn tanh tro muội, lộ dần màu thịt da của đất tươi nguyên.
Từ mặt đất mịn, những dòng đỏ ứa lên roi rói.
Từ lòng hào, những dòng đỏ tách mình khỏi nước rãnh, túa ngược lại bờ.
Từ mặt tường thành vỡ, những dòng đỏ bật tung ra không trung.
Những dòng đỏ bay lướt, uốn lượn, hòa vào, tách ra như đi tìm phần thuộc về mình. Rồi bắt đầu gom tụ thành những hình hài. Những bàn chân đầu tiên chạm đất. Những bàn tay đầu tiên vuốt vào nắng gió. Những đôi mắt đầu tiên nhận ra anh em ruột rà. Hài đồng hoan ca. Những bàn chân tung tăng ùa đi khắp kinh thành. Chạy, nhảy, nhào lộn, bay, múa...
Ở mỗi dấu chân, vân tay in lại, bật mạnh lên những mầm biếc vùn vụt lớn. Rồi sắc hoa, hương trái.
Ở mỗi dấu chân, vân tay in lại, trồi dậy những đế cột, bệ đá, đài sen. Rồi nhú lên những cột gỗ lớn. Cột cái cột quân mọc vun vút, nảy cành bật nhánh kèo cổn rui mè, sum suê vấn vít hoa văn chạm lộng. Tầng tầng lớp lớp ngút ngàn. Tàu đao rướn căng lên trời, dằng dặc tòa ngang dãy dọc. Mái ngói Lưu Ly gần xa trùng trùng điệp điệp như sóng Đông Hải. Và rồng muôn đời Đinh Lê Lý Trần Hồ Mạc về đủ, bay lượn khoe vân vi bờm móng trên mái đao kèo cột, trên thềm bệ vách ngưỡng, trên lư đỉnh chuông khánh. Đoài Đông Nam Bắc lồng lộng vàng son. Mồn một Tam trùng thành quách thênh thang. Đền đài cung điện ăm ắp. Và bên chùa Báo ân, lừng lững bảo tháp Đại Thánh Tư Thiên vươn lên chót vót mây rọi tỏa linh quang...
Ánh sáng rạng rỡ... Chói lói... Căng mãn.
. . .
Giờ Ngọ. Mồng tám, tháng ba, Nhâm ngọ - Tự Đức năm thứ 35. Đường kiếm như một tia chớp lóe. Hoàng Diệu lôi hết ruột mình ra, thắt nhanh thành thòng lọng, vắt lên cành đa...
IV.
Thành Phú Xuân mưa, bảy ngày không ngớt. Tự Đức không ô lọng, chân trần ra giữa sân điện Văn Minh. Quần thần hoảng hồn chạy theo che mưa chắn gió nhưng Tự Đức gạt hết, cứ vậy phủ phục giữa trời mưa, xá về Hà Thành bảy xá: “Vận nước không theo lòng người, ta có tội!”.
. . .
Chuyện không còn thuộc về hiện tại thì chắc đã là quá khứ. Chuyện thuộc về hiện tại thì khi đọc cũng đã là quá khứ rồi. Chuyện thuộc về tương lai thì đã có sẵn đây. Ngày mai, tỉnh dậy, chuyện tiếp.
. . .
Tự Đức đúng hay không đúng?
. . .
Đại úy Q. hiểu hay không hiểu?
. . .
Đằng kia, cái gàu máy xúc bổ xuống, “khậc” lên một tiếng và từ từ bứng lên một khối kim loại gỉ ròng ròng đỏ(5). Lúc đó gần 12 giờ trưa.
5. Theo cụ Tô, một nhà nghiên cứu lịch sử và am tường dã sử nói rằng nhiều khả năng đó là trấn yểm của Phương Bắc nhằm cắt long mạch nước Nam, có thể từ thời Cao Biền, cũng có thể cách nay không quá xa. Một giả thuyết khác rằng đây là trò yểm trấn của những kẻ xưa bất thuận với triều đình, hoặc triều đại sau yểm trấn triều đại trước (giả thuyết này cũng có phần hợp lý). Về việc tại sao tới giờ người ta mới phát hiện ra được (vì thường thì nghi thức yểm trấn này rất huyền bí và long huyệt thường nằm rất sâu), cụ Tô nói: “Có lẽ vì linh khí của đất này rất mạnh, còn trường vượng nên những thứ xú uế nằm trong đất, lâu rồi cũng bị đùn ra hết. Và những gì đẹp đẽ cũng vậy, dù ở ngầm đâu đó cũng có ngày phát lộ, rói tươi dưới ánh mặt trời”.