Bóng trăng khuya

ĐBQH, Hòa thượng Thích Chơn Thiện 10/05/2009 00:00

Tôi hình dung, thiên nhiên như thường có mặt bên cạnh Hồ Chí Minh để chia sẻ với Người. Trăng khuya cũng thế, lặng lẽ nép sau tàng cây, lắng nghe Người bàn bạc việc quân cơ, quốc kế, và nhích gần song cửa để canh chừng giấc ngủ say của Người giữa thanh khí về khuya của trời đất.

“Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên”

Ước gì tôi có thể phổ nhạc bài thơ “Đối nguyệt” tuyệt vời ấy để bạn bè có thể rung động hát lên trong ngày kỷ niệm sinh nhật của Người!

02-bong-trang-13109-300-a2.jpg

Ai cũng biết rằng lãnh tụ Hồ Chí Minh thường sáng tác thi ca sau những bận rộn việc quân việc nước. Giữa những năm 1950-1952, Người cảm tác:

                     Đối nguyệt

      “Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,
      Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền,
      Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,
      Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.”

Nam Trân dịch:
                  “Ngoài song trăng rọi cây sân,
            Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.
                  Việc quân, việc nước bàn xong,
            Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhàn.”
                              (HCM Toàn tập, Tập 6...,tr.141)

Để thêm một chút sinh động, nhân cách hóa, cho bản dịch, chúng tôi xin dịch lại rằng:

                     Ngoài song trăng nép cây sân,
               Trăng di giục bóng cây gần trước song.
                     Việc quân, việc nước bàn xong,
               Bên song sửa gối, giấc ngon trăng nhàn.”

Tôi hình dung, thiên nhiên như thường có mặt bên cạnh Hồ Chí Minh để chia sẻ với Người. Trăng khuya cũng thế, lặng lẽ nép sau tàng cây, lắng nghe Người bàn bạc việc quân cơ, quốc kế, và nhích gần song cửa để canh chừng giấc ngủ say của Người giữa thanh khí về khuya của trời đất.

Trong vườn thơ thiền của Phật giáo, trăng – hay ánh trăng – là biểu tượng của tâm vắng lặng, giải thoát miền thế tục, là biểu tượng của trí tuệ xuất trần, như thiền sư Huyền Quang, Tam tổ Trúc Lâm, Lý Đạo Tái, đã diễn cảm:

         Đề Động Hiên Đàn việt Giả sơn

         “Hoa mộc di duyên chủng tác sơn,
         Lung yên trạo nguyệt, lạc hoa hàn,
         Tòng tư niệm lự đô vô tục,
         Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an”
                  (Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học Xã hội, 
                                     Hà Nội, 1988, tập II, tr.695)
Huệ Chi dịch:    

         Đề núi non bộ của thí chủ ở Động Hiên

         “Quanh quất cây leo, núi chất chồng,
         Hoa rơi lạnh giữa khói trăng lồng,
         Từ nay niềm tục thôi vương vấn,
         Chiếc gối an nhàn trước gió trong.”
                           (Sđd, tr. 695)
Hai bài thơ trên đầy thi khí thoát tục, cao thượng của một tâm hồn ít tâm bệnh, ít não phiền (hầu như vắng bóng tâm bệnh). Thế nên, tâm hồn ấy của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã sản sinh ra những tư tưởng trong sáng đặc kỳ: bên cạnh các sách lược giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị, Người còn lo giải phóng con người, đề ra  phương thuốc trị các tâm bệnh trầm kha: bệnh quan liêu, cửa quyền; bệnh chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi; bệnh che giấu khuyết điểm; bệnh tham nhũng, lãng phí; bệnh sợ hãi, v.v...

02-bong-trang-13109-300-a3.jpg

1. Tâm bệnh tránh né phê bình:

Hồ Chí Minh quan niệm: tránh né phê và tự phê là “ốm mà sợ thuốc” - sợ uống thuốc đắng-, Người bảo:
“Một đoàn thể hoặc Chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình, là một đoàn thể hoặc chính quyền yếu ớt, thoái bộ. Đoàn thể và Chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì oai tín chẳng những không giảm bớt, mà còn lại thêm cao.”

                  (HCM Toàn tập, Tập 5, ..., tr. 584)

Về ý nghĩa thực chất của phê bình, Người xác định:
“Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người làm.”

                  (Sđd.,tr. 232)

2. Tâm bệnh “vị ngã, vị kỷ”:

Nói chuyện với lớp “Chỉnh huấn cán bộ trí thức”, tổ chức từ ngày 15-7 đến ngày 26-9-1953, Người phát biểu:

“... Nói chung, đại đa số đặt ra đều lấy cái ‘tôi’, cái cá nhân mình làm chủ thể... Dân đối với ‘tôi’ thế nào? Đảng đối với ‘tôi’ thế nào? Chính phủ đối với ‘tôi’ thế nào? ... là lấy cái ‘tôi’, cái cá nhân mình làm chủ thể, đòi quyền lợi của cá nhân mình, mà không nói gì đến nghĩa vụ mình. ‘Phải nói: tôi đối với dân phải thế nào? đối với Đảng phải thế nào? đối với Chính phủ phải thế nào?”

                  (HCM Toàn tập, Tập 7, ..., tr. 108)

Vấn đề hành động mà tinh thần lệch lạc là vì cái ‘tôi’ ấy. Giáo lý nhà Phật thì bảo đó là sự nguy hiểm của cái ‘tôi’: vô minh là sự chấp chặt cái ‘tôi’ ấy dẫn đến khổ đau cho mình và cho đời.

3. Tâm bệnh sợ hãi:

Lãnh tụ Hồ Chính Minh lập luận: 

“Nếu sợ khó, sợ khổ, sợ Mỹ thì cái gì cũng sợ. Mà đã cái gì     cũng sợ thì không làm được việc gì, chỉ làm nô lệ.”

                  (HCM Toàn tập, Tập 7, ...,tr. 116)


“Trong lúc khó khăn của Dân tộc, khí tiết của người cán bộ là không sợ gì hết, không sợ kẻ địch, không sợ khó khăn gian khổ. Cái gì khó khăn, cực khổ, cán bộ phải xung phong làm trước. Muốn cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, mong các cô, chú, phải có khí tiết ấy.”

                  (Sđd., tr. 116)
Đấy là đức tính ‘không sợ hãi’ (vô úy) của người cán bộ.
Kinh Đại thừa Phật giáo, Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn), có giới thiệu hạnh cứu khổ trần thế của Bồ-tát Quán Thế âm là hạnh hiến tặng giúp đời của cải vật chất, kiến thức (chánh kiến, chánh tư duy) và hiến tặng cái tâm không sợ hãi bất cứ gì, như sự cống hiến của nền văn hóa “vô úy” của Phật giáo Lý Trần mà báo NĐBND đã đề cập. Quả thực, tinh hoa của văn hóa Việt Nam cho đến ngày nay là trí tuệ vô ngã và vô úy ấy.
Hồ Chí Minh đã dễ dàng có một giấc ngủ, và nhiều giấc ngủ, sâu, ngủ say của một tâm hồn trong sáng, tự chủ (ngủ dưới ánh trăng khuya), cái giấc ngủ mà các nhà Nho ngày xưa thường bảo “chân nhân tẩm nhi bất mộng” (người “chân nhân” ngủ say, không mộng mị):

“Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên”

Ước gì tôi có thể phổ nhạc bài thơ “Đối nguyệt” tuyệt vời ấy để bạn bè có thể rung động hát lên trong ngày kỷ niệm sinh nhật của Người!

ĐBQH, Hòa thượng Thích Chơn Thiện