Sự lựa chọn về ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám

01/09/2007 00:00

Cách mạng tháng Tám thành công, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong hậu phương của hệ thống thuộc địa phương Tây và tại hậu cứ quan trọng của thế lực phát xít Nhật. Chính quyền nước ta lúc bấy giờ không có điều kiện liên hệ trực tiếp với các căn cứ địa cách mạng bên ngoài, bị phong tỏa trong vòng vây hãm của các thế lực thù địch

      Ngay sau khi Cách mạng thành công, đã có 4 lực lượng quân sựå hùng hậu tồn tại trên đất nước ta gồm quân Nhật, quân Tưởng, quân Anh và quân Pháp. Trong bối cảnh đó, Chính quyền Cách mạng đứng trước ba sự lựa chọn: Kêu gọi sự giúp đỡ của một thế lực nước ngoài hoặc Liên Hiệp Quốc, điều mà Đảng ta cho rằng không thể làm được; Dùng sức mạnh có hạn của mình để đối phó với 4 lực lượng quân sự hùng mạnh đang có mặt ở Việt Nam. Sự lựa chọn này có thể đưa đến sự tan rã của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Tìm cách trì hoãn cuộc tiến công quân sự của các thế lực quân sự nước ngoài, tạo những bước hòa hoãn về chính trị, kinh tế, vũ trang, dùng biện pháp hy sinh không gian, tranh thủ thời gian, từng bước phân hóa thế lực thù địch, tạo ra thế hòa hoãn tạm thời để có thời gian phát huy nội lực, chuẩn bị đối phó tốt nhất với thế lực thù địch lâu dài.
Để duy trì và củng cố thành quả cách mạng vào lúc đất nước ta rơi vào tình thế hiểm nguy, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn phương án thứ 3, đề ra nhiệm vụ trọng tâm: “Thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết, nhiều bạn đồng minh hơn hết”2, dùng ngoại giao để tìm một giải pháp ít xấu nhất tháo gỡ tình hình, không nhất thiết đi theo con đường độc đạo mà đối phương vạch sẵn cho ta, từng bước phân hóa thế lực thù địch, làm cho chúng không thể liên kết lại để lật đổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập 2.9 và chính sách đối ngoại đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được công bố vào ngày 3.10.1945, nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đã làm tốt nhiệm vụ đã đề ra.
      Trước hết, bước triển khai thành công đầu tiên của chính sách đối ngoại mà Hồ Chủ tịch đã vạch ra là việc chúng ta đạt được Hiệp định sơ bộ ngày 6.3 và tạm ước ngày 14.9 với Pháp. Hiệp định sơ bộ khẳng định Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp, theo như chủ trương của Đờ Gôn. Đồng thời qua Hiệp định, ta xóa được sự áp đặt của các nước lớn đối với nước ta tại Hội nghị Potsđam (7.1945), xóa được Hòa ước Giáp Tuất (1874) đặt Việt Nam dưới ách thống trị của Pháp, đồng thời, điều chỉnh thỏa hiệp Anh – Pháp (10.1945) và Hoa – Pháp (2.1946) một cách có lợi cho ta hơn. Quan trọng nhất, Hiệp định đã khẳng định sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam độc lập. Hiệp định sơ bộ và Tạm ước 14.9 cho thấy chúng ta đã vận dụng khéo léo và hiệu quả sách lược phân hóa kẻ thù, sử dụng điều khoản thay quân của Hiệp định Hoa – Pháp làm thời cơ để đẩy quân Tưởng và tay sai ra khỏi đất nước ta, tránh phải đối phó với hai thế lực thù địch cùng một lúc, tạo bầu không khí hòa hoãn, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân và tạo tiền đề để mở rộng quan hệ quốc tế của ta, nhất là với Pháp.

10 Su lua chon 300A2.jpg

      Thứ hai, chúng ta đã tạo được bầu không khí thuận lợi để Đoàn Đại biểu Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu tới thăm chính thức Pháp vào tháng 5.1945. Trong lúc thế lực thực dân phản động Pháp đẩy quan hệ Việt – Pháp vào xu thế đối đầu, trong bối cảnh nước Pháp đang ở ngưỡng cửa của sự thay đổi chính trị, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động tiếp cận với nước Pháp mới, đến Paris, trung tâm chính trị ở châu  u với thiện chí hợp tác bình đẳng, trân trọng tư tưởng “Tự do, bình đẳng, bác ái” của nhân dân Pháp và với lòng quả cảm bảo vệ độc lập tự do cho dân tộc, là một chủ trương đối ngoại sắc bén, có tính tiến công, phản ánh tầm nhìn xa trông rộng của Người và Bộ chỉ huy cách mạng lúc bấy giờ. Nó đã cùng với những bước đi khác của chính sách “Hòa để tiến” tạo ra những tiền đề vững chắc để mở rộng quan hệ quốc tế của cách mạng Việt Nam, tranh thủ xu hướng hòa bình, dân chủ ở nước Pháp, tạo bước hòa nhập của cách mạng nước ta vào trào lưu đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, hòa bình sau Chiến tranh thế giới lần thứ II.
      Thứ ba, minh họa sinh động cho tư duy hội nhập quốc tế trong bối cảnh đó, Chính phủ Hồ Chí Minh đã đề ra chính sách đối ngoại mở thể hiện trong thư 9 điểm gửi Liên Hiệp Quốc tháng 12.1946. Trong thư, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người khẳng định: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”..., “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực..., dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình... sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay, đường sá, giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế... chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc”.
      Tóm lại, trong thời kỳ duy trì và củng cố chính quyền cách mạng 1945 – 1946, bằng nhiều biện pháp ngoại giao linh hoạt, khôn khéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng “Nhân nhượng không có nghĩa là khuất phục” đã đưa cách mạng nước ta từng bước loại trừ bớt số lượng kẻ thù, giảm nhiều đến mức thấp nhất sự có mặt của các lực lượng quân sự của nước ngoài trên đất Việt Nam, Đông Dương lúc bấy giờ, đặt thế lực thực dân hiếu chiến Pháp vào thế ngày càng đơn độc, đến mức chúng không còn có thể dựa vào sự hỗ trợ tại chỗ của lực lượng vũ trang của đồng minh khi phát động cuộc chiến xâm lược nước ta. Hệ quả trực tiếp là chúng đã không thể tiến hành trọn vẹn chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” như ý muốn.
      Nhìn lại sự lựa chọn về đối ngoại của Bác Hồ và của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám, điều chúng ta cảm nhận trước hết là nó đã bắt nguồn từ tư tưởng lớn của “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, quyết tâm “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo” của ông cha ta. Tư tưởng lớn đó đã được thể nghiệm thành công trong quan hệ với ngoại bang cứng rắn về nguyên tắc vừa mềm dẻo về sách lược. Điều đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta vận dụng thích hợp trong bối cảnh bước ngoặt của Chiến tranh thế giới thứ II và thực sự đã trở thành tiền đề bất biến tạo ra cơ sở vững chắc cho Đảng và Nhà nước ta đề ra chiến lược kháng chiến và xây dựng, bảo vệ đất nước, từng bước vững chắc đi đến xây dựng xã hội mới, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

1 Nhà nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại
2 Chỉ thị Kháng chiến Kiến quốc - Văn kiện Đảng về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tập 1, trang 32

Nguyễn Phúc Luân1