Phòng tư vấn số 18 (Phần cuối)
Truyện ngắn của Nguyên Hương
>> Phòng tư vấn số 18 (Phần 3)
>> Phòng tư vấn số 18 (Phần 2)
>> Phòng tư vấn số 18 (Phần 1)
Câu chuyện thứ sáu
Đồng hồ chỉ một giờ sáng.
- Dạ xin chào anh.
- Xin lỗi, tôi đã đánh thức chị?
Nghĩa là giọng nói của tôi nghe ngái ngủ lắm. Tôi nuốt xuống và hít một hơi thật sâu trước khi thở ra thật dài, dĩ nhiên là tôi bịt ống nói lại khi hít thở kiểu này.
Rồi tôi quyết định nói thật:
- Dạ, ca trực đêm, khi không có ai gọi tới thì đôi khi tôi cũng... bị ngủ gục.
- Tôi làm phiền chị rồi.
- Tôi cảm ơn anh mới đúng. Bởi vì nếu không phải là anh mà sếp gọi tới để kiểm tra thì...
Bên kia vang tiếng cười khẽ, rồi lặng im.
Trong thanh vắng, tiếng tích tắc của cái đồng hồ trên tường vang rất rõ.
Tôi tìm cách khơi chuyện:
- Anh cũng là người làm việc ban đêm?
- Không. Mấy hôm nay tôi không ngủ được là vì chưa quen với thay đổi giờ giấc. Tôi ở Mỹ mới về.
|
|
- Anh từ xa lắc khiến tôi tò mò làm sao anh biết nơi này?
- Cô nhân viên lễ tân của khách sạn. Tôi nói với cô ấy là về Việt Nam thích nhất là được nghe nói tiếng Việt đã đời. Cô ấy cho tôi số điện thoại của Phòng Tư Vấn Số 18.
- Cô ấy có cho anh biết mỗi phút gọi đến đây giá năm ngàn đồng không?
- Vậy à? Rẻ hơn tiền mua rượu, và hệ lụy sau khi uống rượu nữa.
Câu nói vang lên bằng giọng tự giễu.
- Anh về thăm nhà hay về tính chuyện làm ăn?
- Thăm một vài nơi.
- Ví dụ như...?
Giọng nói chợt ngạt đi, uốn éo, như là điện thoại bị mất sóng. Vài chục giây, giọng nói rõ hơn:
- Chị có nghe tiếng sóng vỗ không?
- Anh đang ở trên du thuyền?
- Tôi đang đi tới sát mép nước.
- Bãi biển Nha Trang?
- Không. Vũng Tàu. Tôi đang nhìn ngọn hải đăng và nhớ một lá thư. Để tôi đọc chị nghe.
Tiếng “bụp” vang lên, cuộc điện thoại ngừng khựng.
Một lát sau, chuông reo. Giọng người đàn ông ho khúc khắc:
- Xin lỗi, điện thoại bị rớt xuống nước, may mà không sao. Ban nãy tôi kể chị nghe tới đâu rồi?
- Lá thư.
- À, lá thư. Lá thư được viết thành bốn bản cầu mong may ra có một bản tới tay ai đó. Bốn lá thư bỏ vô bốn cái chai nhựa rồi thả xuống biển như trong cổ tích. Trừ những người quá đuối không nói được nữa, còn lại tất cả cùng nhau soạn từng lời sao cho người thân của mình bớt đau lòng – Giọng nói bật ho rồi nuốt xuống – “Chúng tôi gồm 114 người vượt biên trên chiếc tàu 6 máy nguyên ở Rạch Giá mang bảng số KGxxxx. Chúng tôi xuất phát từ Cần Giờ vào đêm 22 tháng 1 năm 1981 Tây Lịch. Sau hơn 2 ngày hành trình chiếc tàu không may bị hư máy. Chúng tôi đã chăm sóc đùm bọc nhau trong suốt 10 ngày qua, nay đem hết lòng thương yêu thông báo: chẳng bao lâu chúng tôi sẽ giã từ thế gian trong êm thấm như một giấc ngủ say...”.
- ...
- Lúc đó tôi mười bảy tuổi. Cha tôi sĩ quan ngụy, con sĩ quan ngụy không được lên đại học, mà ba má tôi thì không muốn con mình làm rẫy suốt đời – Tiếng gió thổi khiến ống nghe vang loạt xoạt – Đi kinh tế mới khổ quá, ba má tôi dắt con cái trở về thành phố thì nhà đã bán mất rồi cho nên cứ lang thang ở nhờ. Những gia đình cho chúng tôi ở nhờ bị rắc rối vì kiểm tra hộ khẩu. Anh em tôi bụi đời không ra bụi đời, tử tế không ra tử tế.
- ...
- Tàu xuất phát lúc một giờ sáng, là ban nãy, khi tôi bắt đầu gọi cho chị. Tôi canh đồng hồ đúng một giờ thì gọi cho chị. A lô, chị còn nghe không?
- Anh nói đi.
- Cám ơn chị đã lắng nghe. Không có chị chắc đêm nay tôi phải nhờ rượu.
- ...
- Em gái tôi chết trên tay tôi, ngày này, ba mươi năm trước. Nó chết nhục nhã, hoảng loạn, đói khát. Tôi đã không bảo vệ được em tôi.
Im lặng thật lâu. Đường dây vang tiếng rào rạo.
- Tàu chạy êm ru ngon trớn được khoảng một tiếng đồng hồ thì bị níu lại. Bác tài là tay lái xịn nhưng người Rạch Giá không quen vùng sông Thị Vải nên chạy trúng chỗ người ta đặt đáy. Chân vịt bị quấn lưới. Từng tốp ba người ngậm dao nhảy xuống để cắt lưới. Tất cả đàn ông con trai trên tàu đều thay nhau lặn xuống để cắt lưới. Trồi lên lặn xuống trồi lên lặn xuống trồi lên lặn xuống, tháng chạp, lạnh kinh khủng. Mỗi lần trồi lên, tôi lại ngước nhìn về ngọn hải đăng chớp đỏ mà cầu trời.
- ...
- Cả đêm như vậy. Kiệt sức đến nỗi cứ nhắm mắt mà cắt đại, không còn nhìn thấy được gì nữa hết, nhiều lưới quá, một đống khổng lồ. Tới tờ mờ sáng con tàu vẫn còn đứng bên trong cửa biển Cần Giờ. Bị biên phòng tóm gọn là cái chắc, ai cũng nghĩ vậy mà không dám nói ra sợ cái miệng ăn mắm ăn muối. Chị có mê tín không?
- ... Đôi khi – Tôi trả lời.
- Sợ các tàu thuyền khác nhìn thấy cho nên trưởng đoàn lệnh cho tất cả mọi người không phận sự chui vào hầm tàu. Tới sáng mới xong đống lưới. Chạy khi trời sáng là liều mạng nhưng lại hóa may mắn vì tàu tuần tra biên phòng ngang qua, ai cũng chắc là bị tóm cổ nhưng không, có lẽ tàu tuần tra nghĩ là không ai dám vượt biên vào ban ngày cho nên đi qua luôn. Chị biết không, tiếng thở phào của hàng trăm con người trong hầm tàu hôm đó vang dội như sóng vậy.
- ...
- Chạy đến ngày thứ ba thì tàu bị hư máy không sửa được, nó chậm chạp trôi tự do theo chiều gió và dòng nước chảy. Mọi người gỡ các thanh gỗ ở phần mui và lan can để làm tạm cánh buồm nhỏ nhưng gió yếu ớt, tàu nhúc nhích chậm rì.
- ...
- Mấy ngày sau, bánh trái hết sạch. Mỗi ngày mỗi người được chia nửa củ khoai lang và mười cc nước. Em gái tôi mệt lả nhưng nó kiên cường lắm, nó còn hát để trấn an tôi. Đến khi khát quá nói không ra hơi thì nó mới thôi mà vẫn cố cười dù môi khô rốc tóe máu. Ngày sau nữa thì tiêu chuẩn nước chỉ còn năm cc, có mấy bà mẹ thấy con mình khát quá, đem hột xoàn và kim cương ra xin đổi hớp nước mà không đổi được. Mọi người nghĩ ra cách nấu nước biển để lấy hơi nước mà uống. Nhưng cái nồi thấp tè, hơi nước cũng mặn chát. Đến ngày thứ chín thì tôi nằm mơ thấy trời mưa, tỉnh dậy thấy em gái tôi đã ngất vì không chịu nổi đói và khát. Còn gạo nhưng không ai nhai nổi vì mồm miệng khô rang. Đến ngày thứ mười thì ai cũng chấp nhận số phận không may. Bắt đầu bàn bạc viết một lá thư chung, là lá thư tôi vừa đọc cô nghe đó. Cuối thư là danh sách của tất cả thuyền viên, nhờ vậy tôi mới biết rõ trên thuyền có 114 người. Mọi người chuyền tay nhau lá thư để ghi tên tuổi của mình vô đó. Khi lá thư tới tay em gái tôi, nó yếu đến nỗi không cầm nổi cây bút. Nó thều thào “Em nhớ má quá. Anh Hai cố sống về với má nghen”.
- ...
- Ngày hôm sau, thùng đựng nước bằng sắt chắt cạn tới đáy, được ba lít nước cặn màu đỏ đen, chia đều cho 114 mạng người. Là hết. Mọi người ngậm ngụm nước trong miệng, nhìn nhau, chờ chết.
- ...
- Ngày thứ mười ba... – Người đàn ông ho khan – Chị có tin ngày mười ba là rất xấu không?
-... Không.
- Em gái tôi chết vào cái ngày thứ mười ba đau thương đó. Trong cơn hấp hối chúng tôi nhìn thấy ánh sáng mỗi lúc một gần rồi dừng lại ở cự ly khá xa. Sợ đốm sáng bỏ đi, chúng tôi làm vội nhiều cây đuốc bằng giẻ từ khăn mền áo quần được quấn vào thanh gỗ, nhúng dầu rồi đốt. Trong bóng đêm, ánh sáng bập bùng từ chục cây đuốc đưa qua đưa lại để ra hiệu cầu cứu. Chúng tôi quỳ xuống chắp tay vái lạy con tàu lạ. Tới rạng sáng thì chúng tôi thấy rõ hơn, con tàu bằng gỗ không lớn lắm chỉ khoảng gấp đôi con tàu vượt biên. Khi tới gần, tàu lạ chạy vòng vòng quan sát. Chúng tôi tiếp tục thay phiên nhau vái lạy nó đồng thời đưa tay chỉ vào miệng và thùng ra dấu hết nước. Con tàu lạ cho máy chạy ở độ thấp, đậu song song với tàu chúng tôi, một người mặc bộ đồ thuyền trưởng màu trắng sang trọng trong phòng lái mở cửa ra cười, vẫy tay chào. Trưởng đoàn đem hết sức ra gào vài câu tiếng Anh, người thuyền trưởng nhe răng cười ok, ok. Một tiếng đồng hồ trôi qua, một bên nhìn dò xét, một bên năn nỉ diễn tả bằng đủ cách, rồi chiếc tàu lạ cột một thùng nhựa lớn đựng khoảng bốn mươi lít nước thả xuống biển, quăng đầu dây qua cho chúng tôi kéo lên. Họ giữ khoảng cách khá rộng, hình như họ sợ chúng tôi có vũ khí nhảy qua khống chế. Họ chuyền qua hai thùng nước, ra dấu chút nữa sẽ cho thêm. Trưởng đoàn của chúng tôi mừng quá, lấy trọn bốn mươi lít nước nấu vội một nồi cháo. Chén, bát, ly, lon được gom lại, chúng tôi thay phiên nhau lãnh phần một chén cháo. Thủy thủ đoàn bên tàu kia nhìn đoàn người ốm đói mặt mày lem luốc húp chén cháo chậm như uống linh dược. Trong mắt họ, chúng tôi chắc chẳng giống con người.
- ...
- Người thuyền trưởng chờ chúng tôi ăn xong, vọng qua cười to chỉ vào con tàu của ông và nói “Singapore, Singapore!” Chúng tôi mừng quá, lại thêm vừa được ăn chén cháo, ai nấy la to “Được cứu rồi bà con ơi! Họ chở mình đi Singapore”.
- ...
- Thủy thủ đoàn ra lệnh cho chúng tôi ngồi xuống, tàu của họ cập vào, buộc dây cho hai tàu sát nhau rồi chỉ chúng tôi từng người một theo thang nhỏ bước qua tàu của họ. Đàn ông con trai gồm khoảng năm mươi người xuống một hầm gỗ rộng bốn vách thẳng đứng, cách ly hoàn toàn. Hầm này trước đây có lẽ được dùng chứa cá vì bay mùi tanh. Tôi nghe mọi người bàn tán “Thủy thủ đoàn sợ mình cướp tàu nên mới cách ly, mình đông quá mà”. Rồi họ thòng thang gỗ xuống cho từng người leo lên. Mỗi năm phút họ cho lên một người. Sau chừng hai chục người thì đến phiên tôi. Người đàn ông lực lưỡng dẫn tôi vào phòng nhỏ. Vừa mở cửa, một người đàn ông khác đang cầm súng bước tới ấn ngay vào màng tang. Họ lục soát cặn kẽ từ túi áo cho đến đường chỉ may, rà sát từng mảng tóc cho tới tận chỗ kín. Chiếc nhẫn hai chỉ vàng má tôi khâu vào nách áo cho hai anh em phòng thân bị lột ra quăng vào giỏ đựng nhiều vàng và đô la từ những người trước. Lục soát xong, họ dẫn ra lại boong. Nhìn qua bên chiếc tàu vượt biên, mấy mươi người bị lục soát trước tôi đang ngồi thấp thỏm trên mui. Họ ra dấu cho tôi nhảy về. Lần lượt những người khác cũng được trả về tàu cũ như tôi. Trưởng đoàn giải thích “Họ nói lấy vàng và đô la là tính tiền công kéo mình đến Singapore. Phụ nữ và con nít ở lại bên đó làm con tin phòng khi chúng ta làm loạn”. Trời xế chiều, thuyền trưởng tàu Singapore cho chuyền thêm vài thùng nước. Tàu chúng tôi được kéo theo sau bằng dây cáp. Tiếng máy nổ đều, một nồi cháo khác được nấu, niềm hy vọng tràn trề.
- ...
- Đến mười giờ tối, họ cho hai tàu cặp song song như hồi sáng, từng người phụ nữ con nít được chuyền qua dưới mấy cây súng đang ngắm sẵn sàng nhả đạn. Em gái tôi rũ rượi, quần ướt đẫm máu. Chiếc tàu hiện nguyên hình hải tặc thuộc dạng siêu đẳng, nó tháo dây rồ máy chạy mất hút.
- ...
- Trong khi lũ đàn ông chúng tôi ăn cháo và mơ thì bọn khốn kiếp... hãm hiếp... suốt cả ngày... Chó chết - Người đàn ông bật khóc - Em tôi mới mười ba tuổi.
Điện thoại cúp. Tiếng tút tút vang đều đều trong đêm trống rỗng.
Tôi đợi người đàn ông qua cơn xúc động. Thật lâu, cái điện thoại vẫn im lìm.
Tôi nhấn số gọi lại, muốn nói “Xin chia buồn cùng anh”. Giọng tổng đài đều đều vô cảm “Xin lỗi, số máy quý khách vừa gọi hiện nay không thể liên lạc được”.
Cái điện thoại lại bị rớt xuống nước và lần này không may?
Tôi mở cửa sổ nhìn ra đường, người lao công đang quét rác. Gió cuối năm, lá rụng đầy.
Vỉa hè trước mặt hoa viên chất đầy dưa hấu. Những người canh dưa đang ngủ. Khi họ trở mình, tấm bạt dưới lưng vang sột soạt như mớ lá bay sát mặt đường. Tấm bạt che bị gió thổi lạch xạch lạch xạch. Một người lồm cồm ngồi dậy lấy viên gạch đè lên mép tấm bạt.
Gió lặng, còn lại tiếng chổi như tiếng lưỡi cưa.


