Phong bì ghi: đường Xí nghiệp…
Truyện ngắn của Trịnh Sơn

20/12/2011 07:39

Cho tới bây giờ, nó vẫn chưa có tên. Ngày xưa, chỉ là một con hẻm nhỏ bắt đầu từ ngã ba quốc lộ rẽ vào núi. Cách thị xã chưa đầy hai cây số, nhưng cái nóng cái gió ở đây tỷ lệ nghịch với sự vắng vẻ dân cư, quanh năm bụi mù mùa nắng lầy lội mùa mưa. Quê. Người ta còn gọi nó là con đường Cát Bụi, vì cuối hẻm sâu này, là trường bắn. Những năm 1980 - 90, thứ bảy chủ nhật nào cũng có một - hai vụ tử hình ở đây. Cho đến khi nhà nước cho thành lập xí nghiệp khai thác đá, công nhân khắp nơi ùn về, lập lán trại, nhà tập thể, con đường được nới rộng thêm, trải đá xanh cứng cáp. Mọc thêm cái chợ nho nhỏ với mấy cửa hàng bán rau củ quả, thịt cá, tạp hóa. Chiều tối, có một quán bán bún riêu với hột vịt lộn trở thành trung tâm ăn nhậu bình dân cho thanh niên tụ tập, hẹn hò. Đi từ Sài Gòn dọc theo đường 51, cứ nói “cho xuống ngã ba Xí nghiệp”, ắt tài xế sẽ dừng xe đúng chỗ, không chệch một mét nào. Đối diện ngã ba, điểm xe dừng, là nghĩa trang của xứ đạo – nghĩa trang duy nhất nằm phía biển trên trục lộ.

Người mới đến, đều qua ngã ba này. Người ra đi, cũng từ ngã ba này. Những cuộc hội ngộ và chia ly chưa chắc ít hơn mấy đám bụi cất mình lên khỏi mặt đường khi một chiếc xe tải hoặc xe đò vù qua, chưa kể những cơn gió thỏa sức tung hoành từ phía biển, thổi lồng lộng qua đồng trống. Dân ở đây, chủ yếu làm ruộng hoặc đập đá. Ruộng thì nhiễm mặn, đá sỏi nhiều hơn đất, mỗi năm chỉ làm được một vụ cho đỡ xót ruộng đồng, chẳng thấm vào đâu. Đá của núi, người cứ mặc sức nổ mìn, gom củi với vỏ xe đốt cho nóng nứt ra rồi quai búa chẻ nhỏ thành cục thành hòn. Đoàn đoàn xe tải lớn nhỏ ra vô nưng nức từng giờ. Có khi, họ chạy cả giấc đêm để tránh cảnh sát giao thông. Làng xóm ăn nhờ tiền từ đá, ngủ với tiếng vỡ của đá. Lâu lâu, ai đi xa về mới nhận ra núi lõm từng khoảng rộng, có đoạn mất luôn trở thành đất bằng. Nhiều cái hồ lớn nhỏ san sát nhau, sâu hoăm hoắm. Rằm hay đầu tháng, nhất là mùa Vu Lan, nhiều người quanh vùng đem cá vào tít chân núi thả xuống hồ. Phóng sinh. Thường thì, sáng hôm sau lũ trẻ con sẽ mang thúng, lưới, vợt ra hồ vớt bầy cá chưa kịp mừng vì thoát nạn. Hồ sâu quá, mặt nước thẫm một màu xanh rờn rợn như màu xanh trời lúc không một gợn mây, mồi câu thả xuống hồ dù đã cột thêm nhiều chì nặng vẫn không thể nào chìm. Khổ nhất là khi có người chết đuối, thỉnh thoảng thôi, rất lâu xác mới nổi lên mà chẳng thợ lặn nào đủ sức đằm mình xuống hồ. Đến giờ, hồ nào cũng thấp thoáng vài cái miếu, đêm đêm lập lòe khói nhang cùng đom đóm vờn bóng tối. Bầy dơi từ hốc núi nhập nhoạng kiếm mồi.

Phong bì ghi: đường Xí nghiệp…<br><i>Truyện ngắn của Trịnh Sơn</i> ảnh 1
Minh họa của Thanh Huyền

Đất này trước giải phóng là doanh trại của lính Úc đánh thuê, vẫn còn nhiều chứng tích về kho bãi, lô cốt, hầm hố và một sân đáp trực thăng trên đỉnh núi. Người già đã ở đây từ xưa thì gọi đùa: vùng DMZ của Bà Rịa Phước Tuy. Vì, sườn bắc núi là lính đánh thuê thì sườn nam núi là Việt cộng. Đánh giòn giã ngày đêm cho đến trận Bình Giã thì Việt Cộng giành cả trái núi. Quân đánh thuê tuy tháo chạy vội nhưng cũng kịp giật mìn đánh sập hầu hết các công trình của họ, lấp kín tất cả các miệng đường hầm mà người dân đồn thổi là họ giấu vàng ròng trong đó hoặc Núi Dinh chính là một bản sao của tổng kho Long Bình còn chìm sâu trong đất đá. Có đợt, hộ ông Tư Cụt phát hiện được một hầm rộng chứa hàng vạn bình ác quy cỡ lớn và nhiều đạn dược. Cái tên ông có từ đó. Số bình ác quy bán cho vựa ve chai, còn số bom mìn cả vợ chồng con cái hì hục cưa ngày cưa đêm để lấy thuốc và lõi kim loại, hy vọng bán nhiều tiền hơn. Đùng một cái, chỉ còn một mình ông sống với hai chân cụt lỏn tới bẹn, vợ và mấy đứa con tìm không ra xác. Chòi của ông ở khá xa nên hàng xóm không ảnh hưởng mấy. Mọi người chỉ kịp nghe một tiếng nổ như đá sập đồng thời đất rùng rùng dội ngược, chạy đến thì chỉ thấy ông Tư ngắc ngoải thở chẳng ra hơi nữa. Gia đình ông từ đâu đến đây và định cư ở góc núi này khi nào chẳng ai nhớ nổi, họ đưa ông từ bệnh viện về mảnh đất cũ, thanh niên chặt cây hái tranh dựng lại mái chòi và rào luôn một vòng rộng xung quanh. Địa danh Đồi Ông Cụt có từ đó với nhiều chuyện ma mị để bọn trẻ hù dọa nhau hoặc người lớn tán gẫu lúc rỗi rảnh.

Năm đó, tôi mới bảy tuổi, nhà ở xóm ngoài, phải đi qua hết xóm trong rồi cuốc bộ thêm một khoảng dốc nữa mới tới chòi ông Cụt. Dù sợ, bọn trẻ vẫn kéo nhau vào đó mỗi chiều, vì ngay ven Đồi Ông Cụt là Hồ Ngót – nước trong biêng biếc, không có đá cạn, sạch sẽ và có con dốc cát trắng thoai thoải dẫn xuống – thỏa thích tắm táp, vui đùa. Những đứa láu cá thì leo lên vực đá cao nhảy ùm xuống như diễn viên xiếc. Nhờ những đứa này, mà cứ khoảng năm giờ chiều, bọn tôi lại chạy ù từ hồ lên dốc, có đứa không kịp mặc quần cộc vào nữa, khi nghe tiếng hô: - Ông Cụt tới ới ới…! Dĩ nhiên, chẳng bao giờ bọn tôi chậm hơn ông, vì ông phải đi bằng hai tay. Hai cánh tay ông mới to làm sao, cơ bắp cuồn cuộn, hai bàn tay đeo hai tấm vỏ xe cắt vừa đủ xỏ quai như hai chiếc dép. Mông ông cũng mang dép. Ông chống từng sải một xuống con dốc, ngồi bên bờ hồ, giặt giũ và kỳ cọ. Ông còn mang kèm một cái nồi nhỏ. Mấy đứa lớn hơn hay dọa: - Ông Cụt nhốt mấy con ma trong cái nồi ấy, chiều chiều đem ra hồ cho chúng tắm và uống nước… Bọn tôi tin sái cổ, sau này mới biết, ấy là ông đem theo nồi gạo để vo và lấy nước nấu cơm.

- Sao ông Cụt sống được nhỉ? Gạo đâu mà ăn? – Tôi hỏi ba tôi.

- Người ta luôn sống được bằng những gì mình có, nếu vẫn muốn sống, con à.

Thì, ông Cụt cũng lao động đàng hoàng như bao người đầy đủ tay chân khác. Thậm chí, ông làm còn nhiều hơn. Ban ngày, chẻ đá hộc. Ông ngồi tựa lưng vào một tảng đá lớn, tay búa tay đục đều đặn như có nhịp điệu, các thầu đá đều khen đá ông Cụt chẻ vuông vắn, đẹp. Ban đêm, khi cánh phu thợ đã về nhà cả, ông vẫn hì hục gọt gọt đẽo đẽo với núi. Xa xa, nửa khuya về sáng đôi khi người ta nghe thứ âm nhạc của thời giã gạo xưa cũ - ấy là ông Cụt vẫn còn thức. Bọn thanh niên cùng làm với ông hay đùa: - Bố ơi! Bố còn con cái gia đình gì đâu mà làm dữ vậy, rồi tiền bỏ đâu cho hết?! Ông không cười cũng chẳng trả lời, gò má trái có vết sẹo rộng như lát cắt vỏ cây tràm lại giật giật, đỏ tím. – Thôi, bọn cháu nói chơi vậy mà, chứ ai dòm ngó gia tài của ông đâu mà lo! Thoát chết, tự nhiên người ta thấy ông Cụt biết hát. Độc mấy bài Phạm Duy: Hẹn hò, Người về như bụi, Đưa em tìm động hoa vàng… Trước đây, ông chỉ quen la hét bà vợ với đám con thôi chứ hát hò gì, thế mà bây giờ thi thoảng lại ngân lên từ hai bờ môi méo xếch thâm sì một điệu nhạc trong trẻo. Nhất là khi gió lớn thổi qua Hồ Ngót, âm vang từ ông Cụt tản vào tầng tầng vách đá, lộng bốn bề núi rồi thanh thả hút về nơi nào không rõ. Nghe riết thành quen, mấy người ngồi gần ông thường giữ yên lặng hoặc khe khẽ phả hơi theo. Những lúc ấy, tiếng ghè đá với kim loại trở thành một khung nhạc phách hồn nhiên, nếu có nốt thăng giáng nào đếm được hẳn phải là những giọt mồ hôi tròn trĩnh xuôi theo da thịt người thợ đá về đất dưới cái nắng hung tợn thường trực miền Đông.

Cuối năm sau, con đường Xí Nghiệp trải nhựa lần đầu tiên. Hai bên đường, vài nóc nhà cao cao lợp tôn giả ngói đỏ au. Đầu xóm ngoài, có một gia đình giàu có ở đâu đó chuyển về sống. Người ta nghĩ họ giàu, vì mới chân ướt chân ráo về đây, họ cho khởi công xây một tòa biệt thự kiểu Tây với tường rào cao chất ngất bốn bề. Ông chủ nhà mặc quần soọc trắng, bụng bự, mang đôi adidas thể thao, mỗi sáng chiều dẫn hai chú bẹcgiê đi dạo từ hết xóm ngoài vào xóm trong. Tối tối, ông lái chiếc xe hơi đen bóng ra khỏi nhà cùng cô con gái da trắng hồng phau phau như em bé đang cữ sữa. Tiểu thư khoảng hai mươi, nghe đâu đang học nhạc viện ở Sài Gòn. Mỗi lần cô về nhà, cả xóm biết ngay bởi thế nào cả đêm hôm ấy nhạc sẽ chảy như suối từ cơ ngơi kín cổng cao tường ra bốn phía nguy nga đất đá núi Dinh lộng gió. Bạn bè trạc tuổi cô đến chơi, quần là áo lụa, xe cộ nhoang nhoáng, họ tiệc tùng, khiêu vũ và hát hò tới khuya chưa chịu nghỉ. Xóm, có thêm chuyện để bàn.

Một chiều cuối tuần, Tiểu thư cùng mấy người bạn rủ nhau leo núi. Họ dừng lại ở Hồ Ngót chưa bao giờ quên xanh. Tiếng cười đùa rinh rích cả góc núi. Tiểu thư muốn tắm. Cứ để nguyên váy áo, cởi giày, cô xoải người vào nước. Đám bạn cô thích chí vỗ tay, anh chàng người yêu cô cười rú lên – nhưng tuyệt nhiên chẳng ai dám thò chân sâu xuống hồ. Tiểu thư đẹp như con cá rồng trên nền xanh mây soi, hai cánh tay thuôn giữ thăng bằng cho tấm thân thanh mảnh nổi ngửa hờ hững dưới ánh chiều đỏ chạng vạng, hai chân duỗi nhẹ nhàng như không.

Ông Cụt ra hồ, đúng lúc bọn thanh niên đang la toáng cả lên. Dưới nước, cô gái hụt hơi chìm xuống nổi lên mấy bận. Nhanh hết sức, ông Cụt lao xuống nước. Một tay ông nắm được mái tóc dài Tiểu thư, tay kia quạt vội vào bờ. Lâu lắc lâu lơ, ông mới lại ở gần một người đàn bà đến thế.

Tiểu thư sặc nước, thở khó nhọc nhưng vẫn đủ sức mắng anh chàng người yêu:

- Đồ hèn!

Quay sang ông Cụt, cô chưa biết mở lời cảm ơn người vừa cứu mạng mình thế nào. Anh hùng cứu mỹ nhân đây ư? Một nửa thân xác con người cũng chẳng nguyên vẹn. Hai bờ môi chum chúm lại như muốn nói lại chẳng phát ra âm thanh. Ông Cụt tụt xuống hồ lần nữa. Bọn thanh niên về cả. Sau lưng họ, điệu slow thả vào gió ran rát “Một người ngồi bên kia sông…” Nào ai biết ông Cụt sẽ ngâm mình bao lâu trong làn nước thăm thẳm.

Sau dạo ấy, ngôi biệt thự vắng hẳn những cuộc ồn ào nhạc rượu. Xóm chỉ nhận ra Tiểu thư về khi thấy dáng váy hoa thong thả đi về phía Đồi Ông Cụt. Luôn luôn, tay phải cô xách theo hộp đàn. Bên Hồ Ngót, cô ngồi cùng tiếng vỹ cầm mỏng tang buổi chiều. Ngoài bãi đá, ông Cụt hát. Cánh thợ làm cùng lại trêu: - Ông có hát được bài Chuyện tình Trương Chi không? Ông Cụt thuộc làu nữa ấy chứ. Những khi cất lên lời hát ông lại tưởng tới câu chuyện chàng Quasimodo tận đẩu đầu đâu. Chàng gù nhà thờ Đức Bà và nghệ sĩ dị dạng thổi sáo dòng Hương Giang, ai khổ hơn ai? Ông Cụt chưa bao giờ trả lời được. Cho tới một sáng sớm nọ, người ta thấy Tiểu thư đi ra từ chòi ông Cụt. Vồi vội như tinh mơ đang căng ngọn núi Dinh đứng dậy. Đêm ấy, cô đã ở lại. Họ đã ở lại. Hồ Ngót đủ chỗ cho tất cả những mạch nước ngầm bị kiềm nén bấy lâu nhất loạt tuôn trào.

Ở quán bún riêu, người ta cười khùng khục mỗi khi thấy Tiểu thư đi vào Đồi Ông Cụt.

- Không có hai chân thì làm ăn thế nào nhỉ?

- Chắc gì mấy ông lành lặn đã bằng ông Cụt. Bao nhiêu sinh lực dồn cả vào đó không chừng.

- Có khi, hồn ma oan dại trong Hồ Ngót ám nhập Tiểu thư, chứ làm sao một cô gái như thế lại đi yêu một ông già tàn phế?

- Cá độ nhé, chỉ là tình yêu sét đánh thôi. Mỵ Nương có gắng lắm thì được dăm ba tháng là cùng…

Không đợi dăm ba tháng, ngay khi nghe chuyện, ông bố Tiểu thư đánh con gái một trận nên hồn và trói cô lên xe đưa thẳng lên Sài Gòn. Ông Cụt bỏ nghề chẻ đá, mua chiếc xe lăn đi bán vé số. Từ sáng sớm đến nửa đêm. Mỗi lần ngang qua ngôi biệt thự, ông dừng lại lâu lâu. Mấp máy chìa tập vé vào khoảng không trước mặt. Chẳng ai nghe thấy ông Cụt hát nữa.

Con đường trải nhựa mấy lần,. Dường như năm nào cũng phải đào lên làm lại vì xe tải nặng ra vô liên tục nên mặt đường phải chịu đựng hệt như mặt ruộng. Bây giờ, nó có thêm cái tên mới: con đường Trương Chi. Ngày mưa dầm hay nắng dội, người ta vẫn nghe tiếng xe lăn ông Cụt đi về. Tóc ông đã bạc nhiều. Khi nhà nước cho ngưng khai thác đá, xóm lên phường, nhà cửa san sát, đất đai lên giá vùn vụt. Đồi Ông Cụt trở thành kho vàng ròng. Ông hiến cho địa phương một nửa đất đai để xây ngôi trường cấp một khang trang và tình nguyện làm bảo vệ. Đám con nít vừa sợ vừa thương ông già đi xe lăn, mặt mày sẹo ngắn sẹo dài mà hiền lành chẳng bao giờ nói câu nào.

Ngôi biệt thự đổi chủ. Nghe đâu, ông bố Tiểu thư đem cả gia đình xuất cảnh qua Pháp. Dần dà, người ta ít nhắc đến chuyện ông Cụt. Hồ Ngót được rào lại bằng kẽm gai, treo bảng đỏ bốn phía: HỒ SÂU CẤM TẮM. Người đưa thư già quen thuộc thi thoảng lại tìm đến trường học đưa cho ông Cụt khi thì một hộp quà nho nhỏ lúc là một phong thư. Chỉ có địa chỉ người nhận: Đường Xí Nghiệp – Xóm Núi – Đồi Ông Cụt…

Lần trở lại núi Dinh gần đây nhất, tôi thấy ông Cụt không lăn xe một mình. Bên cạnh ông, một người đàn bà chừng ngoài bốn mươi, hai gò má ửng hồng với hộp đàn vỹ cầm ngang vai. Sau lưng ông, một cậu thanh niên cao ráo đẩy xe thong thả, gương mặt hiền lành, đôi mắt y hệt đôi mắt tôi mang theo suốt tuổi thơ mỗi khi nhớ về ông Cụt. Một gia đình hạnh phúc. Ông Cụt, Tiểu thư và con của họ. Chàng thanh niên là một kỹ sư địa chất học ở Pháp về, đã được chính quyền mời khảo sát vùng núi Dinh để chống sạt lở đất đá và bảo vệ sinh thái xứ sở này.

Con đường Xí Nghiệp vẫn chưa có tên trên bản đồ hành chính. Mỗi người gọi nó bằng một cái tên gắn với cuộc đời họ trên mảnh đất nuôi nấng mình. Con đường không của ai cả nhưng cũng là của riêng mỗi người. Ngồi uống trà dưới mái nhà ấm áp của ông Cụt, tôi lại nhớ lời ba mình nói khi xưa:

- Người ta luôn sống được bằng những gì mình có, nếu vẫn muốn sống!

    Nổi bật
        Mới nhất
        Phong bì ghi: đường Xí nghiệp…<br><i>Truyện ngắn của Trịnh Sơn</i>
        • Mặc định