Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định: Chồng chéo, mâu thuẫn, không biết áp dụng theo luật nào thì không được
Cho ý kiến về dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) tại Tổ 11 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh: Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Thái Nguyên), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đề nghị, phải rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật để xem cái gì là đặc thù, cái gì là chung, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn. Pháp luật đương nhiên có giao thoa, nhưng chồng chéo, mâu thuẫn, không biết áp dụng theo luật nào thì không được.
Quy định cụ thể tên bộ chịu trách nhiệm quản lý
Phát biểu tại phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cho biết, dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) liên quan đến nhiều luật khác như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển, Luật Đất đai... Do đó, cần rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo, mâu thuẫn.

“Rà soát toàn bộ hệ thống để xem cái gì là đặc thù, cái gì là chung, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn. Pháp luật đương nhiên có giao thoa. Giao thoa thì được nhưng chồng chéo, mâu thuẫn, không biết áp dụng theo luật nào thì không được. Vì thế, phải tìm ra đoạn giao thoa để xử lý”, Phó Chủ tịch Quốc hội yêu cầu.
Nhận thấy, hiện nay dự thảo Luật còn 10 điều không nêu tên bộ, chỉ dùng cụm từ “bộ quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian môi trường biển (sau đây gọi là bộ quản lý tổng hợp về biển)”, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị, phải quy định cụ thể tên bộ chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về tài nguyên, không gian môi trường biển và sửa lại 10 điều này là “Bộ Nông nghiệp và Môi trường”.

“Trong toàn bộ dự thảo Luật có 23 điều, khoản quy định về cơ quan có thẩm quyền, nhưng cuối cùng không rõ cơ quan có thẩm quyền là cơ quan nào? Có 87 chỗ sử dụng cụm từ “người có thẩm quyền”. Vậy chỗ nào là Thủ tướng, chỗ nào là Chính phủ, chỗ nào là bộ, chỗ nào là xã. Cần phải cụ thể hóa cho dễ hiểu, không nên khái quát”, Phó Chủ tịch đề nghị.
Liên quan đến điều khoản chuyển tiếp và điều khoản thi hành, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị, cần ghi rõ Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày nào. Đồng thời, những điều, khoản nào có hiệu lực ngay; những điều, khoản nào có thời gian khác thì cần ghi rõ vào trong Luật.
Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý cần rà soát điều khoản chuyển tiếp cả về mặt kỹ thuật và nội dung.
“Điều 75 của dự thảo Luật quy định điều khoản chuyển tiếp, tuy nhiên, nhiều nội dung không phải là chuyển tiếp mà liên quan đến vấn đề tổ chức thi hành. Ví dụ như khoản 6, khoản 7 của Điều này quy định trách nhiệm của Chính phủ, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh; hay Điều 76 quy định hiệu lực thi hành là nội dung sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan. Tôi đề nghị việc sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan có thể chuyển thành điều riêng”, Phó Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.
Về khoản 4 Điều 75 quy định nghĩa vụ tài chính đối với tổ chức, cá nhân đã được giao khu vực biển trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, nội dung điểm a, b, c của khoản 4 Điều 75 và điểm d khoản 5 Điều 75 của dự thảo Luật hiện đang mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, đề nghị rà soát và tách riêng nội dung chuyển tiếp, còn nội dung liên quan đến các quy định trong dự thảo Luật có thể đưa vào phần điều khoản thi hành.


Ưu tiên quy hoạch không gian biển quốc gia là có hiệu lực cao nhất
Mục tiêu sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và Luật Bảo vệ môi trường không chỉ là bổ sung những công cụ quản lý mà phải thực sự thay đổi về phương thức quản trị. Nhấn mạnh điều này, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, ĐBQH Nguyễn Thanh Hải (Thái Nguyên) nêu rõ, quản trị biển phải thống nhất theo không gian chứ không theo ngành; quản trị môi trường phải dựa trên dữ liệu và rủi ro, giảm thủ tục nhưng trách nhiệm phải rõ; mở rộng quyền khai thác tài nguyên phải đi cùng với cơ chế kiểm soát và trách nhiệm bảo vệ, phục vụ môi trường.
.jpg)
“Hai luật này có hiệu lực sẽ tháo gỡ được điểm nghẽn cho đầu tư kinh tế biển, kinh tế xanh, đồng thời nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro và bảo vệ môi trường”, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nêu rõ.
Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải đánh giá cao dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đã tháo gỡ được tương đối những vướng mắc hiện hành đối với một số dự án đầu tư trên biển.
Tuy nhiên, quy định cụ thể để đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn với khu vực biển được giao vẫn còn chưa rõ. Khu vực biển không phải là đất đai, vì vậy, nếu có thể quy định rõ ràng thì sẽ tháo gỡ rất nhiều đối với những dự án lớn như: dự án điện gió, dự án dầu khí, dự án nuôi biển... Do đó, cần cụ thể hóa hơn, quy định đầy đủ hơn về quyền được sử dụng tài sản trên khu vực biển tương tự như quyền tài sản gắn với đất.


Về quy hoạch không gian biển, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải cho rằng, đây là căn cứ định hướng để phân bổ không gian biển nhưng giấy phép chuyên ngành sẽ quyết định điều kiện hoạt động cụ thể trong không gian biển được xác định.
Để khắc phục tình trạng “nhiều người quản nhưng không rõ trách nhiệm”, đồng thời phòng ngừa giải quyết xung đột, đại biểu đề nghị, phải quy định rõ ưu tiên quy hoạch không gian biển quốc gia có hiệu lực cao nhất, sau đó mỗi hoạt động sử dụng biển phải có cơ quan chịu trách nhiệm chính.
Bên cạnh đó, cần xác định thêm một nguyên tắc để quy định rõ trong dự thảo Luật: cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cuối cùng khi phát sinh chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển là ai, Chính phủ, Bộ hay địa phương?

Liên quan tới cơ chế ưu đãi, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhận thấy, các nội dung thể chế hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh cũng chưa rõ trong dự thảo Luật. Và, ngay tại quy định trong các văn bản dưới luật cũng chưa được cụ thể.
“Thực tế cho thấy, các ngành kinh tế biển mới rất cần không gian để thử nghiệm, song các cơ chế vẫn chỉ mang tính chất chung chung, chưa làm rõ tiêu chí như thế nào thì được thụ hưởng, mức độ ưu đãi ra sao và thời hạn như thế nào?”, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải băn khoăn.
Về kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động trên biển và sức chịu tải của môi trường biển, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh, thực tiễn cho thấy nguồn thải có thể đều đạt tiêu chuẩn, đúng giấy phép, nhưng tổng lượng thải tại một vùng biển vẫn vượt khả năng tiếp nhận của môi trường. Do vậy, đề nghị bổ sung quy định cụ thể về phương pháp đánh giá dữ liệu đầu vào và ngưỡng môi trường; đặc biệt là phải lấy kết quả đánh giá sức chịu tải của biển để làm căn cứ cho việc quy hoạch, cấp phép, giao và cho thuê khu vực biển.

Lưu ý vấn đề bảo vệ môi trường biển và điều kiện sống trên đảo, ĐBQH Chamaléa Thị Thủy (Khánh Hòa) nêu rõ, Điều 56 và Điều 57 dự thảo Luật quy định về nước ngọt, nước thải, xử lý rác trên đảo và vận chuyển chất thải vào đất liền.

Đại biểu Chamaléa Thị Thủy đề nghị, khi thực hiện phải xác định rõ kinh phí, phương tiện vận chuyển, nơi tiếp nhận và trách nhiệm của từng cơ quan. Có nơi tập kết rác nhưng không có phương tiện vận chuyển hoặc nơi tiếp nhận thì rác vẫn tồn đọng. Những việc vượt khả năng cấp xã phải được cấp tỉnh tổ chức giải quyết, có cơ chế hỗ trợ từ Trung ương khi cần thiết. Cơ sở du lịch, lưu trú và sản xuất trên đảo cũng phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với chất thải của mình.
Bày tỏ đồng tình với việc Điều 69 dự thảo Luật đã tích hợp nội dung đánh giá môi trường vào hồ sơ cấp phép để tránh thủ tục trùng lặp, song, Đại biểu Chamaléa Thị Thủy chỉ rõ, giảm thủ tục không có nghĩa là giảm yêu cầu kiểm soát môi trường, nội dung này vẫn phải được thẩm định đầy đủ.

Cho rằng, dự thảo Luật đã quy định trường hợp phải lấy mẫu lại khi có dấu hiệu xuất hiện nguồn ô nhiễm mới hoặc môi trường biến động bất thường, đại biểu Chamaléa Thị Thủy đề nghị, làm rõ trách nhiệm kiểm tra của cơ quan cấp phép, bảo đảm kết quả mẫu cũ còn phản ánh đúng chất nạo vét của lần cấp phép tiếp theo. Mỗi lần cấp phép cũng phải xem khu vực đó còn tiếp nhận được bao nhiêu, tính cả khối lượng đã nhận chìm và các hoạt động liên quan. Không để từng lần riêng lẻ đáp ứng yêu cầu nhưng tổng tác động lại vượt khả năng tiếp nhận của khu vực biển.

