Phổ biến, giáo dục pháp luật: Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm
Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 gồm 10 chương, 51 điều, tập trung cụ thể hóa trách nhiệm của từng chủ thể; gắn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với truyền thông chính sách; đẩy mạnh chuyển đổi số; đáp ứng yêu cầu tiếp cận của từng nhóm đối tượng thụ hưởng và bảo đảm các nguồn lực cần thiết cho quá trình tổ chức thực hiện.
Công nghệ mở rộng khả năng tiếp cận
Một trong những điểm đổi mới mang tính nền tảng được Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc nhấn mạnh là tinh thần lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Theo đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải chuyển từ phương thức cung cấp thông tin thụ động, một chiều sang tạo lập môi trường thuận lợi để người dân, doanh nghiệp chủ động tìm kiếm, tiếp cận, học hỏi pháp luật, từ đó nâng cao ý thức chấp hành và từng bước hình thành văn hóa thượng tôn pháp luật.
Theo Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) Phan Hồng Nguyên, dự thảo Nghị định dành một nhóm quy định cụ thể cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên nền tảng số, mạng xã hội và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Việc ứng dụng những công nghệ này giúp mở rộng khả năng tìm kiếm, trao đổi và giải đáp pháp luật cho người dân. Tuy nhiên, đi cùng với đó là yêu cầu kiểm soát chất lượng nội dung, cập nhật dữ liệu và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong cung cấp thông tin chính xác.

Đối với việc ứng dụng AI, nguyên tắc AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Nội dung do AI tạo lập phải được kiểm tra trước khi đưa vào sử dụng. Đối với những nội dung mang tính hướng dẫn, giải đáp pháp luật hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, phải được người có thẩm quyền xem xét, phê duyệt trước khi công bố.
Cùng với ứng dụng công nghệ số, dự thảo cũng chú trọng bảo đảm khả năng tiếp cận pháp luật của các nhóm yếu thế, người dân sinh sống ở vùng khó khăn và những người gặp trở ngại khi sử dụng công nghệ số. Vì vậy, những hình thức như tư vấn trực tiếp, hướng dẫn tại cộng đồng và các phương thức phù hợp khác vẫn cần được tiếp tục duy trì.
Một nội dung quan trọng khác là thiết lập cơ chế truyền thông chính sách hai chiều. Theo đó, dự thảo đề xuất cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của người dân, doanh nghiệp thông qua Cổng Pháp luật quốc gia và các kênh thông tin chính thức khác.
Cơ quan lập đề xuất chính sách và cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu hoặc giải trình các ý kiến đóng góp. Ý kiến góp ý cùng kết quả xử lý sẽ là một trong những căn cứ để xác định nội dung, nhiệm vụ và bố trí nguồn lực ưu tiên cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật sau khi văn bản được ban hành.
Trong chu trình này, báo chí được xác định có vai trò giải thích chính xác, dễ hiểu các nội dung chính sách; làm rõ những tác động đến đời sống kinh tế - xã hội và phản ánh nhu cầu, nguyện vọng của các đối tượng chịu tác động. Qua đó, báo chí đóng góp vào việc nâng cao chất lượng xây dựng cũng như hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Đưa pháp luật đến đúng đối tượng
Theo lãnh đạo Bộ Tư pháp, mục tiêu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là phải góp phần trực tiếp vào việc giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật. Từ mục tiêu đó, công tác phổ biến pháp luật không thể tiến hành rập khuôn mà phải có những biện pháp phù hợp với tình hình thực tế. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với việc thực thi pháp luật hàng ngày.
Thông tin pháp luật khi đến với người dân phải giúp họ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, nhận biết được những hành vi có thể dẫn đến nguy cơ vi phạm và biết tìm đến đúng cơ quan, tổ chức có trách nhiệm khi cần hướng dẫn, trợ giúp.
Nhiều chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu nội dung và phương thức phổ biến phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của từng địa bàn và từng nhóm đối tượng. Đối với người lao động, nội dung phổ biến cần tập trung giải thích những quy định liên quan trực tiếp đến hợp đồng lao động, chế độ tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Đối với nạn nhân bị bạo lực, cần tập trung cung cấp kiến thức về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân và địa chỉ cụ thể của các cơ quan, tổ chức hỗ trợ. Đối với người chấp hành xong án phạt tù, cần trang bị những kiến thức pháp luật thiết thân, tạo điều kiện cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
Việc gắn nội dung pháp luật với từng tình huống cụ thể trong đời sống giúp người tiếp nhận dễ hiểu, dễ nhớ và có điều kiện vận dụng vào hoàn cảnh của mình. Cùng với việc đưa pháp luật đến đúng đối tượng, dự thảo đặt ra yêu cầu đánh giá mức độ tiếp cận, mức độ hiểu biết, ý thức tuân thủ pháp luật và sự hài lòng của chính những người thụ hưởng.
Theo ông Phan Hồng Nguyên, số lượng hoạt động tuyên truyền cần được xem xét trong mối tương quan với khả năng tiếp nhận và vận dụng thực tế của người dân. Kết quả đánh giá được sử dụng làm căn cứ điều chỉnh nội dung, hình thức, phương thức tổ chức và bố trí nguồn lực cho các kỳ tiếp theo.
Thông qua đánh giá định kỳ, cơ quan chức năng có thể nhận diện những nội dung còn khó hiểu, những nhóm đối tượng chưa được tiếp cận đầy đủ hoặc những phương thức tuyên truyền chưa phù hợp, từ đó điều chỉnh cách làm và tập trung nguồn lực vào những vấn đề thực tế cần giải quyết ở cơ sở.
Từ ứng dụng công nghệ đến cá thể hóa nội dung, điểm chung của những định hướng đổi mới là đưa nhu cầu thực tế của người dân, doanh nghiệp trở thành căn cứ để lựa chọn nội dung, phương thức và đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật.

