Phát triển du lịch gắn với nâng cao thu nhập của người dân
Thảo luận tại Tổ 7 gồm Đoàn ĐBQH TP. Bắc Ninh và tỉnh Lâm Đồng, các ĐBQH kiến nghị nhiều giải pháp góp phần phát triển du lịch gắn với mở rộng đầu ra, nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập cho người dân.
Khai thác lợi thế phát triển du lịch tàu biển
Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam không chỉ cụ thể hoá Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam mà còn phải là một trong những giải pháp để thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây là mong muốn của ĐBQH Phạm Thị Hồng Yến (Lâm Đồng).

Theo đại biểu Phạm Thị Hồng Yến, Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định: phát triển kinh tế biển, văn hoá biển giàu bản sắc, là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia biển; phát triển cộng đồng cư dân trên biển, trên đảo giàu mạnh; phát triển quốc gia biển mạnh, phát triển các không gian biển mới, khát vọng vươn ra biển lớn.
Đại biểu nhấn mạnh, Nghị quyết số 20 - NQ/TW cũng đề ra mục tiêu là tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu du lịch biển bình quân 14%/năm. Đây là một trong những nội dung trực tiếp liên quan đến du lịch biển, phát triển kinh tế biển và liên quan tới Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Đại biểu dẫn số liệu thống kê, trên thế giới tổng doanh thu của ngành du lịch tàu biển năm 2026 đã là 218 tỷ USD và dự báo đến 2035 là 401 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đối với lĩnh vực này khoảng 7%. Hiện nay các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Ấn Độ, Thái Lan hay ASEAN, lĩnh vực phát triển du lịch tàu biển đã được đầu tư, quan tâm và mang lại rất nhiều lợi ích về phát triển kinh tế.

Ở nước ta, theo thống kê của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, năm 2023 du lịch tàu biển chỉ chiếm 410 triệu USD, trong khi đó doanh thu của các nước ASEAN đã là 10 tỷ USD. Vì vậy, đại biểu đề xuất dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam cần bổ sung các nội dung liên quan đến phát triển ngành du lịch tàu biển; rõ các chính sách, cơ chế đào tạo nguồn nhân lực và các chính sách liên quan để khai thác lợi thế về không gian biển.
Tạo thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú
Quan tâm đến nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái gắn với phát huy bản sắc văn hoá bản địa, ĐBQH Trần Thị Oanh (Lâm Đồng) đề nghị, tại Điều 2, dự thảo Nghị quyết cần chú trọng phát triển du lịch gắn với nâng cao thu nhập của người dân và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bản địa, hiện nay, dự thảo Nghị quyết mới chỉ nêu rõ hiệu quả của nhà đầu tư, của doanh nghiệp.

Tại khoản 5 Điều 3 dự thảo Nghị quyết mới quan tâm đến phát triển du lịch cộng đồng miền núi ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Trần Thị Oanh cho rằng, cần làm rõ các tiêu chí đánh giá những đơn vị có tiềm năng để phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái gắn với sản xuất nông nghiệp. Bởi lẽ không phải đơn vị nào có tiềm năng về du lịch nông nghiệp cũng thuộc vùng khó khăn.
Tại khoản 6 Điều 5 dự thảo Nghị quyết cần bổ sung đối tượng hỗ trợ trực tiếp là hợp tác xã, tổ hợp tác, các hộ kinh doanh được hỗ trợ xây dựng sản phẩm OCOP gắn với đặc trưng của địa phương, như vậy du lịch mới mở rộng đầu ra và nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập cho người dân.
ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà (TP. Bắc Ninh) dành sự quan tâm đến chính sách hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch. Theo đó, tại Khoản 1 Điều 8 dự thảo Nghị quyết quy định ưu tiên bố trí vốn Chương trình mục tiêu quốc gia cho đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề du lịch cho lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số và người lao động tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.

Tuy nhiên, Nghị quyết số 46/2026/QH16 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 đã xác định rất rõ nguyên tắc phân bổ ngân sách Nhà nước để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đó là: đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải, tập trung ưu tiên phân bổ ngân sách Nhà nước ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu biên giới và hải đảo.
Do đó, đại biểu Đỗ Thị Việt Hà đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc về tính cần thiết, làm rõ ưu tiên bố trí vốn trong mối tương quan với việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, với mục tiêu cao nhất bảo đảm nguồn lực thực hiện, tính khả thi, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Tại Điều 9 dự thảo Nghị quyết quy định về chính sách thị thực đặc biệt, tạo thuận lợi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế, nhưng vẫn còn chung chung, chưa rõ cơ chế thực hiện. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hóa đầy đủ chủ trương của Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các chính sách cụ thể, khả thi và tạo thuận lợi trong việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế.
Đối với chính sách nghiên cứu cơ chế thí điểm có kiểm soát về thị thực nhập cảnh và lưu trú đối với người nước ngoài làm việc từ xa, có khả năng lưu trú dài ngày, đóng góp cho kinh tế du lịch, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đại biểu Đỗ Thị Việt Hà đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ nội hàm của việc nghiên cứu cơ chế thí điểm có kiểm soát của chính sách này là gì? Bởi nội dung này không có tính quy phạm pháp luật, mà chỉ mang tính tổ chức thực hiện. Trong trường hợp chính sách này chưa chín, chưa rõ, đề nghị không đưa vào dự thảo nghị quyết.

