Phát triển công nghiệp văn hóa cần khơi thông nguồn lực cho cộng đồng sáng tạo
Thảo luận tại Tổ 16 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang, Lai Châu) về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các ĐBQH đề nghị hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, khơi thông nguồn lực cho cộng đồng sáng tạo, đồng thời bảo đảm chính sách hỗ trợ đến được với các chủ thể sáng tạo và người dân ở mọi vùng miền.
Chiều 24/10, Tổ 16 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang, Lai Châu) thảo luận về: dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Cần khung thủ tục thống nhất để tránh phân mảnh pháp lý
ĐBQH Hà Thị Nga (Lai Châu) bày tỏ thống nhất, đồng tình cao với sự cần thiết ban hành dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Theo đại biểu, Việt Nam có nhiều điều kiện, môi trường thuận lợi để phát huy tiềm năng, phát triển ngành công nghiệp văn hóa, từ đó đóng góp tích cực vào sự phát triển đất nước, nhất là thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số và phấn đấu để ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030.

Đại biểu đánh giá cao cách tiếp cận lập pháp tại Điều 37 của dự thảo Luật khi sửa đổi đồng thời 4 luật liên quan, gồm Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế thu nhập cá nhân. Theo đại biểu, cách tiếp cận này góp phần bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tính đồng bộ của chính sách tài chính, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc về thuế và đầu tư khi Luật được triển khai trong thực tiễn.
Để các chính sách ưu đãi thực sự phát huy hiệu quả, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ lưỡng, bảo đảm các quy định của Luật tương thích với các cam kết quốc tế, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Theo đại biểu, việc này nhằm chủ động phòng ngừa rủi ro phát sinh tranh chấp thương mại quốc tế liên quan đến các quy định về trợ cấp và ưu đãi tài chính. Đối với các quy định phân cấp, giao quyền cho HĐND, UBND cấp tỉnh và cấp xã, đại biểu đề nghị cần tính toán khả năng cân đối ngân sách của địa phương, tránh tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không bảo đảm nguồn lực thực hiện, nhất là tại những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách.

Về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, khơi thông nguồn lực cho cộng đồng sáng tạo và doanh nghiệp vừa và nhỏ, đại biểu Hà Thị Nga nhấn mạnh, phát triển công nghiệp văn hóa không thể thiếu hệ sinh thái sáng tạo, trong đó hàng nghìn, hàng triệu nghệ sĩ, nhà thiết kế, lao động trẻ và doanh nghiệp khởi nghiệp giữ vai trò chủ lực. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Điều 9 của dự thảo Luật.
Theo quy định này, UBND cấp tỉnh được giao quy định trình tự, thủ tục và phương thức giám sát thử nghiệm có kiểm soát. Đại biểu cho rằng, cách tiếp cận này có thể dẫn đến nguy cơ phân mảnh pháp lý, thiếu thống nhất giữa các địa phương, đồng thời làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp văn hóa có tính chất liên vùng. Nếu trình tự, thủ tục thử nghiệm giữa các địa phương không thống nhất, các quy định này có thể vô hình trung tạo thêm rào cản về thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lĩnh vực liên quan.
Đại biểu Hà Thị Nga đề nghị quy định một khung trình tự, thủ tục cốt lõi thống nhất do Chính phủ ban hành và địa phương tổ chức thực hiện, theo các tiêu chí được chuẩn hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, tránh phát sinh rào cản, đặc biệt đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực đặc thù này.

Làm rõ hơn vai trò của chính quyền cấp xã
ĐBQH Cà Thị Thắm (Lai Châu) cũng bày tỏ nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, nhằm tạo hành lang pháp lý, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, khai thác hiệu quả giá trị văn hóa dân tộc và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Góp ý vào dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ hơn vai trò của chính quyền cấp xã trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển công nghiệp văn hóa. Bởi thực tiễn cơ sở cho thấy, nhiều hoạt động văn hóa, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống được tổ chức trực tiếp tại cơ sở. Nếu chỉ quy định trách nhiệm chủ yếu ở cấp bộ và cấp tỉnh mà chưa làm rõ trách nhiệm của cấp xã thì có thể gây khó khăn trong triển khai thực hiện.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định giao UBND cấp tỉnh phân công, phân cấp nhiệm vụ phù hợp cho UBND cấp xã theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương; đồng thời làm rõ trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, tổng hợp thông tin, kiểm tra và phối hợp giữa các cấp. Việc phân cấp phải gắn với điều kiện thực hiện, tránh phát sinh thêm đầu mối, thủ tục hành chính và chế độ báo cáo trùng lặp.
Đại biểu Cà Thị Thắm cũng bày tỏ quan tâm về nội dung mở rộng đối tượng hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa tại dự thảo Luật. Theo đó, khoản 1 Điều 25 của dự thảo xác định các đối tượng tham gia hoạt động hỗ trợ chủ yếu là doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã. Trong khi đó, hệ sinh thái sáng tạo văn hóa còn có hộ kinh doanh, tổ hợp tác, cá nhân sáng tạo, nghệ nhân và những người trực tiếp thực hành văn hóa truyền thống. Nếu điều kiện tiếp cận chính sách phụ thuộc quá nhiều vào việc thành lập doanh nghiệp, những nghệ nhân, cá nhân sáng tạo hoặc hộ cơ sở kinh doanh có thể gặp khó khăn khi tham gia các chương trình hỗ trợ.
Đại biểu đề nghị mở rộng đối tượng thụ hưởng, hoặc thiết kế cơ chế hỗ trợ phù hợp cho hộ kinh doanh, tổ hợp tác, cá nhân sáng tạo và nghệ nhân; đồng thời quy định tiêu chí lựa chọn rõ ràng, ưu tiên phù hợp đối với các chủ thể ở địa bàn khó khăn, gắn hỗ trợ phát triển sản phẩm với bảo tồn và trao truyền văn hóa dân tộc. Việc mở rộng đối tượng cần đi đôi với cơ chế kiểm soát, đánh giá hiệu quả và rà soát các chương trình hiện hành, tránh trùng lặp chính sách và bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu.
ĐBQH Nguyễn Ngọc Hùng (An Giang) đánh giá dự thảo Luật đã bám sát Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam. Đại biểu nhấn mạnh, phát triển công nghiệp văn hóa thì người dân phải được thụ hưởng những lợi ích thiết thực.

Về bảo đảm công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, theo đại biểu, dự thảo Luật đã quy định tiêu chí ưu tiên đối với trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và người dân ở vùng khó khăn. Tuy nhiên, các tiêu chí này mới được xác định đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 24, trong khi Điều 4 về chính sách và Điều 29 về tài chính chưa quy định cụ thể các nội dung liên quan.
Đại biểu cho rằng, việc quy định thẻ văn hóa quốc gia là một bước tiến, góp phần tạo điều kiện để người dân tiếp cận và thụ hưởng các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, chính sách này sẽ khó phát huy hiệu quả nếu nơi người dân sinh sống không có thiết chế văn hóa hoặc địa điểm để sử dụng thẻ. Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 4 các chính sách đảm bảo các điều kiện để thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, trong đó ưu tiên miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đối với Điều 18 và Điều 20 của dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Ngọc Hùng đề nghị bổ sung các quy định về kiểm soát tiếng ồn và thời gian hoạt động, bảo đảm phù hợp với đời sống của cộng đồng dân cư xung quanh.
Theo đại biểu, thực tiễn tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật cho thấy tiếng ồn phát sinh, nhất là vào ban đêm có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân, đồng thời gây phức tạp về an ninh, trật tự. Vì vậy, cần có quy định phù hợp để vừa tạo điều kiện phát triển văn hóa, vừa bảo đảm an ninh, trật tự và đời sống của cộng đồng dân cư.

