Phân định rõ trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự, của pháp nhân và cá nhân
Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng nay, 3/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Dự kiến thực hiện Nghị quyết trong 3 năm
Trình bày Tờ trình dự án Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang cho biết, việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương Đảng, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Dự thảo Nghị quyết gồm 3 chương, 13 điều.
Chương I (từ Điều 1 đến Điều 4), quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật nêu trên.
Dự thảo Nghị quyết quy định 6 nhóm nguyên tắc thực hiện và giải thích 9 thuật ngữ gồm không tham nhũng; vì lợi ích chung; hậu quả thiệt hại; khắc phục hậu quả thiệt hại, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cho địa phương, đất nước; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế tư nhân; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước; vi phạm pháp luật trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi.
Chương II (từ Điều 5 đến Điều 11) quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Chương III (Điều 12 và Điều 13), quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện. Nghị quyết này dự kiến được thực hiện trong 3 năm. Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn này (không quá 2 năm).
Xác định rõ nội hàm của từng lĩnh vực
Trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi nêu rõ, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng; tạo cơ sở pháp lý để xử lý các vấn đề cấp thiết khi một số luật chưa được sửa đổi, bổ sung; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xử lý các vụ việc, vụ án; khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không vụ lợi, không tham nhũng; qua đó nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị quyết, tuy nhiên, đề nghị rà soát kỹ để xác định rõ nội hàm của từng lĩnh vực, tránh phạm vi điều chỉnh quá rộng hoặc chưa thống nhất với các luật chuyên ngành.

Về nguyên tắc thực hiện, Ủy ban đề nghị quán triệt đầy đủ yêu cầu xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời, phân định rõ trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự; trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân; tách bạch việc xử lý trách nhiệm với việc tháo gỡ khó khăn, khắc phục hậu quả đối với dự án, công trình. Chính sách khoan hồng chỉ áp dụng đối với trường hợp không tham nhũng, không vụ lợi, vì lợi ích chung, đã khắc phục hậu quả và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Đối với quy định người được miễn trách nhiệm hình sự bị xử phạt vi phạm hành chính theo khung cao nhất, đa số ý kiến đề nghị rà soát lại vì chưa phù hợp với nguyên tắc cá thể hóa trong xử lý vi phạm hành chính, có thể làm giảm tính nhân văn và khả thi của chính sách.

Liên quan đến điều khoản thi hành, Ủy ban cơ bản tán thành thời hạn thực hiện Nghị quyết là 3 năm, tạo khoảng thời gian thí điểm để tổ chức thực hiện, kiểm nghiệm và đánh giá chính sách. Tuy nhiên, cần xác định rõ ngày có hiệu lực của Nghị quyết, các quy định chuyển tiếp để tránh chồng chéo hoặc khoảng trống pháp lý và mối quan hệ với Bộ luật Hình sự sửa đổi.
Trường hợp các chính sách đã được luật hóa đầy đủ thì cần xử lý hiệu lực của Nghị quyết cho phù hợp. Đồng thời, đề nghị làm rõ phạm vi áp dụng đối với các vi phạm có yếu tố đất đai; bảo đảm không có khoảng trống giữa Nghị quyết này và Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội.

