Phải coi người nghèo là đối tác của chính sách giảm nghèo

Ts Bùi Sỹ Lợi
Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội
23/08/2014 08:50

Tại Kỳ họp thứ Bảy, QH Khóa XIII, QH đã tiến hành giám sát tối cao việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005 - 2012 và ban hành Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020. Theo Nghị quyết của QH, Nhà nước sẽ tăng nguồn lực đầu tư, ưu tiên phân bổ, sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn lực; kết hợp chặt chẽ giữa chính sách giảm nghèo với phát triển KT - XH và quốc phòng, an ninh. Trong đó, một biện pháp hết sức quan trọng để giảm nghèo bền vững là phải tập trung phát huy được nội lực, tôn trọng sự chủ động, sáng tạo, tự chủ lựa chọn biện pháp và cách thức làm ăn để thoát nghèo của chính người nghèo, hộ nghèo. Phải coi người nghèo là đối tác của chính sách giảm nghèo chứ không phải là đối tượng hưởng chính sách một cách thụ động như lâu nay.

7 thách thức lớn trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững

Gần hai thập kỷ nỗ lực, sự nghiệp giảm nghèo của nước ta đã đạt được những thành tựu ấn tượng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, diễn biến nghèo đói vẫn đang đặt ra không ít thách thức.

Một là, những nỗ lực cải cách toàn diện nền kinh tế trong hai thập niên qua đã đưa đến sự tăng trưởng nhanh chóng, sự chuyển dịch về cơ cấu lao động một cách sâu sắc và là động lực chính tạo nên các thành tựu trong xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, mô hình kinh tế của giai đoạn này là dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, dựa vào đầu tư nước ngoài để xuất khẩu nhằm tăng trưởng nhanh. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của nước ta đã cho thấy, mô hình này chỉ có vai trò thúc đẩy giảm nghèo trong giai đoạn khởi động nền kinh tế thị trường, nhưng khi kéo dài thời gian thực hiện thì vai trò này sẽ giảm dần và làm gia tăng mất công bằng xã hội.

Hai là, khoảng cách giàu - nghèo có xu hướng gia tăng thể hiện qua thu nhập, chi tiêu, hưởng thụ các tiện ích y tế, giáo dục, văn hóa... Theo số liệu thống kê, hệ số chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% cao nhất so với nhóm 20% thấp nhất trong cả nước năm 1990 là 4,1 lần, năm 1995 là 7 lần, năm 2002 là 8,1 lần, năm 2004 là 8,4 lần, đến năm 2012 là 9,4 lần. Trong hơn 20 năm, hệ số chênh lệch tăng lên 2,29 lần. Khoảng cách về thu nhập giữa các nhóm dân cư, các vùng địa lý ngày càng gioãng rộng trong bối cảnh chỉ số giá tiêu dùng ngày càng tăng cao. Hệ lụy tất yếu là làm giảm cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo. Đây là thách thức đặt ra đối với chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo trong thời gian tới.

Ba là, lõi nghèo tập trung vào một số vùng và trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số. Sự thay đổi căn bản trên bản đồ nghèo đói của Việt Nam là từ nghèo đói trên diện rộng nay tập trung cục bộ vào đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Năm 2012, tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước; tỷ lệ hộ nghèo ở miền núi Tây Bắc cao gấp 2,97 lần so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước; miền núi Đông Bắc là 1,81 lần, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên là 1,56 lần, Duyên hải miền Trung là 1,27 lần. Sự thay đổi này đặt ra những khó khăn mới cho công tác giảm nghèo vì đây là đối tượng dân cư sinh sống ở khu vực tách biệt, khó tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đồng thời chịu tác động mạnh mẽ của phong tục tập quán bản địa.

Bốn là, trong bối cảnh kinh tế mới đòi hỏi phải tiếp cận đến vấn đề giảm nghèo một cách toàn diện thông qua việc mở rộng cơ hội, giảm thiểu rủi ro và khả năng bị tổn thương, trước hết là vấn đề y tế và giáo dục. Đồng thời phải  nâng cao chất lượng nguồn lực con người. Do đó cần phải ưu tiên tập trung nguồn lực và các giải pháp hỗ trợ cho các địa bàn khó khăn và những nhóm người bị tổn thương trước sự  biến động của nền kinh tế. Đề cao trách nhiệm của các vùng phát triển với các vùng kém phát triển, giữa các vùng chính thức với các vùng phi chính thức.

Năm là, chính sách đối với người nghèo cần có sự khác nhau đối với nhóm người nghèo kinh niên và nhóm người nghèo tạm thời (người có khả năng thoát nghèo). Đa dạng hóa các phương thức cấp tiền cho người nghèo: cấp cho không, cho vay, cấp tiền có điều kiện... (hạn chế áp dụng cơ chế bao cấp, cho không, mà chỉ áp dụng cơ chế này trong những trường hợp thực sự cần thiết). Các chính sách giảm nghèo cụ thể cần hướng đến khai thác năng lực và sự tham gia của người dân và cộng đồng vào việc giảm nghèo. Hòa nhập xã hội các nhóm yếu thế bằng hệ thống an sinh xã hội.

Sáu là, đến nay, độ trơ của giảm nghèo đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện khá rõ ở nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số, mặc dù đã được Nhà nước đặc biệt quan tâm thông qua một loạt các chính sách và chương trình. Do đó, cần tăng cường sự tham gia và hưởng lợi từ quá trình tăng trưởng; đề cao các giải pháp nhằm hướng đến tăng cường nguồn lực cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số để có khả năng tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội, cơ sở hạ  tầng, việc làm ổn định có thu nhập; đồng thời có các giải pháp giảm thiểu rào cản ngôn ngữ, cải thiện chất lượng giáo dục và tránh những định kiến về năng lực của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số.

Bảy là, đối với khu vực đô thị, một bộ phận người nghèo, người có thu nhập thấp có xu hướng phát sinh do quá trình đô thị hóa, di cư nông thôn - đô thị, phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong cuộc sống do phải bảo đảm chi phí đắt đỏ cho các dịch vụ y tế, nhà ở, giáo dục, đi lại và sinh hoạt tối thiểu. Ngoài ra, vấn đề nghèo còn chịu ảnh hưởng, tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, rủi ro trong cuộc sống và tệ nạn xã hội đang gia tăng.

Lấy ý kiến người nghèo khi thiết kế chính sách để tránh lãng phí nguồn lực

Nghị  quyết của QH về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đặt mục tiêu: đạt mục tiêu giảm nghèo theo Nghị quyết KT - XH 5 năm (2016 - 2020) của QH, hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo; xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; riêng năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%, các huyện nghèo còn dưới 30%... Mục tiêu này đòi hỏi phải có các giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

Quan điểm giải quyết nghèo đói phải dựa trên tôn trọng các quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp. Đã đến lúc, phải thay đổi tư duy xác định nghèo chỉ dựa trên cơ sở thu nhập bằng phương pháp đo nghèo đa chiều. Hiện nay, trong phương pháp đo lường, nước ta chưa tiếp cận nghèo đa chiều, nhưng trong thực tế, các chính sách trợ giúp đã mang tính đa chiều, trong đó nhiều chính sách mang tính phổ quát và tạo động lực thoát nghèo. Tuy nhiên, giải quyết vấn đề nghèo theo cách tiếp cận đa chiều theo kinh nghiệm của quốc tế có những bài học tốt để các cơ quan chức năng nghiên cứu vận dụng, hoàn thiện hệ thống chính sách giảm nghèo. Cụ thể là, phương pháp đo lường nghèo được dựa trên cơ sở mức độ tiếp cận các quyền cơ bản của con người. Việc xác định các quyền và các chỉ số đo cho từng quyền được nghiên cứu bài bản, lấy ý kiến rộng rãi, bảo đảm được tính công khai, minh bạch; xây dựng chính sách phải dựa trên kết quả phân nhóm xã hội để có những chính sách phù hợp cho từng nhóm đối tượng, từng khu vực và cho từng cá nhân có những chiều thiếu hụt cụ thể. Trong giai đoạn mới, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện phương pháp đo nghèo và xây dựng chuẩn nghèo phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế theo hướng tính toán, cập nhật đầy đủ nhu cầu chi tiêu tối thiểu của con người, đồng thời cần xem xét một cách thỏa đáng các vấn đề về y tế, môi trường, bình đẳng về cơ hội, và các yếu tố phi thu nhập như nhân lực, tài sản, khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ... để phản ánh được bản chất nghèo trong giai đoạn mới, phù hợp với các hình thức và đối tượng nghèo khác nhau. Tổ  chức thực hiện trợ giúp cho các đối tượng theo từng chương trình cụ  thể, áp dụng phương thức cấp phát tiền mặt có điều kiện thông qua hình thức thẻ ngân hàng hoặc cấp phát tiền trực tiếp theo định kỳ.

Giảm nghèo của bất kỳ quốc gia nào đều là sự nghiệp lâu dài gắn liền với quá trình phát triển KT-XH của quốc gia. Do đó, cần phải tiếp tục phát huy ưu điểm và kiên trì thực hiện mục tiêu đề ra trong cả hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện:

Trước hết, mô hình tăng trưởng kinh tế phải hướng đến mục tiêu phát triển con người. Mô hình tăng trưởng mới của nước ta cần tiếp tục coi phát triển con người là mục tiêu hàng đầu, trong đó cần chú trọng tới cải thiện dịch vụ xã hội, cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ cho người dân, nâng cao GDP/bình quân đầu người. Để bảo đảm chất lượng tăng trưởng, cần chú trọng vào đầu tư công cho khu vực nông thôn, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, đẩy mạnh đào tạo nghề và tạo các cơ hội thuận lợi về dịch chuyển lao động. Ngân hàng Thế giới xác định vai trò của các chính sách về tín dụng là hết sức quan trọng đối với người dân, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp bên cạnh các chính sách về khuyến nông và thông tin thị trường, các chính sách hỗ trợ chuyển dịch lao động, di cư lao động đối với người nghèo cần được chú trọng nhiều hơn, trong đó chú trọng tới cơ sở của sự chuyển dịch đó là nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người nghèo.

Hai là, giảm nghèo luôn được xác định ở tầm chiến lược quốc gia và ở cấp hoạch định chính sách cao nhất. Việc xây dựng các chương trình, dự án giảm nghèo phải xác định rõ những mục tiêu cụ thể và giải pháp phù hợp có tính đến yếu tố vùng miền, tập quán dân cư, cộng đồng. Chính sách giảm nghèo cần được xây dựng theo hướng thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hỗ trợ phát triển năng lực có điều kiện để thúc đẩy ý chí tự vươn lên của chính bản thân người nghèo, địa phương nghèo; đẩy mạnh thực hiện phân cấp đến cơ sở, mở rộng sự tham gia của người dân. Con người vừa là chủ thể của xã hội vừa là động lực của sự phát triển. Do đó, cùng với việc thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo, cần phải khuyến khích sự chủ động tham gia của người nghèo, cộng đồng dân cư trong quá trình thực hiện.

Ba là, bên cạnh việc tập trung hỗ trợ cho hộ nghèo, cần có bước chuyển hợp lý về chính sách để trợ giúp sinh kế, củng cố năng lực thoát nghèo bền vững cho hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Đây là một vấn đề đặc thù của sự nghiệp giảm nghèo nước ta trong giai đoạn hiện nay. Hệ thống chính sách giảm nghèo cần điều chỉnh theo hướng tăng cơ hội tiếp cận chính sách, tạo sự đồng thuận và chủ động tham gia của người nghèo vào quá trình thoát nghèo của mình với vai trò chủ đạo của Nhà nước và hỗ trợ của xã hội, hướng mạnh hơn vào việc bảo đảm an sinh xã hội cho người nghèo, tránh những rủi ro có thể dẫn đến tái nghèo.

 Bốn là, ưu tiên các chính sách đối với những địa bàn khó khăn nhất; ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo nhằm thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội; bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách giảm nghèo; tăng cường công tác quản lý nhà nước, phân công, phân cấp cụ thể trách nhiệm, đổi mới cơ chế điều hành, hoàn thiện khung tiêu chí đánh giá hiệu quả giảm nghèo và khuyến khích xã hội hóa trong công tác giảm nghèo; tăng cường công tác giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH và HĐND các cấp.

 Năm là, mô  hình giảm nghèo phải gắn với điều kiện tự nhiên, xã hội, con người và phong tục tập quán của địa phương. Để tránh sự lãng phí về nguồn lực khi thiết kế các mô hình giảm nghèo cần có sự tham gia ngay từ đầu của người dân, cần thiết phải tổ chức lấy ý kiến của người dân trước khi thực hiện các mô hình. Nhà nước cần thay đổi từ hỗ trợ 100% sang hỗ trợ một phần, thay các chính sách hỗ trợ trực tiếp sang các chính sách hỗ trợ theo các chu kỳ sản xuất. Mọi mô hình giảm nghèo khi được áp dụng cần phải tính tới các yếu tố về tự nhiên, xã hội, con người ở các địa bàn.

Cuối cùng, tín dụng cho người nghèo phải đa dạng, dễ tiếp cận và linh hoạt. Các chính sách này cần bảo đảm tính linh hoạt về định mức cho vay, ưu tiên cao hơn cho các khu vực sản xuất có giá trị kinh tế cao, theo hướng hàng hóa. Để hỗ trợ phòng ngừa các rủi ro cho người nghèo, nhất là ở các khu vực dễ bị tổn thương, điều đó cho thấy các chính sách về tín dụng nên tạo ra sự linh hoạt trong thời hạn trả nợ.

Nhà nước tăng nguồn lực đầu tư và thực hiện đồng bộ các giải pháp với vai trò chủ đạo của Nhà nước; MTTQ Việt Nam và các thành viên của Mặt trận tiếp tục phát huy vai trò giám sát, làm nòng cốt vận động sự tham gia của tổ chức trong và ngoài nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, cá nhân, hộ gia đình; phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính người nghèo trong thực hiện chính sách – mục tiêu giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết của QH sẽ thành hiện thực!

    Nổi bật
        Mới nhất
        Phải coi người nghèo là <i>đối tác</i> của chính sách giảm nghèo
        • Mặc định