Những quy định nào không mới, không đặc thù thì không nên quy định lại
Một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau về dự án Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) là phạm vi điều chỉnh, việc điều chỉnh đối với nước biển, tài chính đối với tài nguyên nước và giải quyết tranh chấp khiếu nại, tố cáo…
Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu: Đây là loại lệ phí
Điều 68 đặt tiêu đề tiền cấp quyền khai thác. Nếu nói quyền khai thác thì chính sách tài chính đối với vấn đề khai thác, sử dụng tài nguyên nước có thuế tài nguyên, các loại thuế khác, các loại phí, lệ phí. Tôi xác định đây là loại lệ phí, vì là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý cấp phép cho tổ chức, cá nhân nào đó, mình thu một khoản tiền giống như lệ phí tòa án. Trong nội hàm của Điều 68, Khoản 2 làm cho lầm tưởng đây như một loại thuế tài nguyên: "Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được xác định căn cứ vào giá tài nguyên nước, căn cứ vào chất lượng nguồn nước, loại nguồn nước, điều kiện khai thác, quy mô, thời gian khai thác, mục đích sử dụng nước". Điều này khiến lầm tưởng là một loại thuế tài nguyên nước, không phải là lệ phí.
Thứ hai, trong luật này khi nói cơ chế hòa giải và giải quyết tranh chấp cũng phải tính thêm. Tôi đồng ý với dự thảo luật và các cơ quan trước hết là các bên tranh chấp tự hòa giải với nhau, đưa về hòa giải cơ sở để giải quyết. Nhưng những tranh chấp kiểu này rất lớn mà những người hòa giải viên ở cơ sở thì làm sao có đủ kinh nghiệm, có đủ trình độ, có đủ điều kiện để đứng ra giải quyết? Tôi đề nghị phải cân nhắc lại chỗ đó.
Đối với Điều 80 giải quyết khiếu nại, tố cáo về tài nguyên nước, tôi đề nghị cũng như các luật khác ta đã nói nhiều lần rồi, những cái gì không mới, không có đặc thù để giải quyết vấn đề này trong khiếu nại, tố cáo thì không cần nhắc lại nữa. Điều 81 về xử lý vi phạm cũng với tinh thần như vậy. Bây giờ nói thế này không biết đã đủ chưa, tôi hình dung là trong những vi phạm liên quan đến quản lý, khai thác, kể cả chủ thể được quyền sử dụng và khai thác, kể cả chủ thể của người quản lý nhà nước và những người khác liên quan đến vấn đề nước chưa đủ những hành vi như đã liệt kê ở đây. Tôi đề nghị không cần quy định này mà theo quy định của pháp luật liên quan đến hành chính thì xử phạt hành chính, liên quan đến hình sự thì xử lý về hình sự, liên quan đến bồi thường thiệt hại thì theo cơ chế.
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc K’Sor Phước: Hiện có nhiều địa phương khó khăn về đất và nước…
Về Điều 4 chính sách của Nhà nước về tài nguyên nước, tôi đề nghị nên bổ sung một mục là Nhà nước ưu tiên đầu tư, điều tra, xây dựng các công trình cung cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cho các vùng ít mưa và không có nguồn nước mặt. Tôi đề nghị bổ sung điểm này vì thực tiễn chúng ta đã làm, nhưng làm chưa được bao nhiêu. Hiện nay có những địa phương rất khó khăn về đất và nước, thậm chí không có nguồn nước, rất cần ưu tiên của Nhà nước.
Thứ hai, ở Điều 68 khai thác nước mặt để phát điện, tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền. Về cơ bản tôi đồng ý. Nhưng ở Mục b lại ghi: Khai thác nước mặt, nước dưới đất để cấp nước phục vụ cho hoạt động kinh doanh, dịch vụ và hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, tức là sản xuất phi nông nghiệp thì phải thu tiền. Quy định như thế này có khi chưa được rõ lắm. Nếu khai thác nước để bán, không biết cái đó gọi là nông nghiệp hay công nghiệp? Đây không phải là nước khoáng, có khi khai thác nước chỉ để bán. Thứ hai, ở Tây Nguyên hàng chục vạn ha cà phê, tôi tính bình quân mỗi gốc cây cà phê đến mùa khô tối thiểu cần 400l nước/1 gốc. Mỗi ha khoảng từ 2.500 - 3.000 gốc như vậy cần tới hơn 1 triệu lít nước cho 1ha mà vùng này có hàng vạn ha… vậy những đối tượng này có phải thu phí, có phải nộp tiền không cho việc lấy nước. Tôi đề nghị việc này cần phải cân nhắc thêm.
Chương II về quan hệ quốc tế, Mục 2 ghi là bảo đảm công bằng, hợp lý các bên cùng có lợi và phát triển bền vững trong khai thác, sử dụng nguồn nước liên quốc gia. Các lưu vực sông của nước ta có những lưu vực nguồn của nó là từ nước ngoài, cũng có nhiều sông, nhất là ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên nguồn nước là ở trên nước ta chảy sang nước bạn rất nhiều. Việc này cũng bình thường. Hiện nay cũng có nhiều quốc gia trong quan hệ quốc tế về nước nói là cùng có lợi nhưng thực ra vẫn đưa chủ quyền là số 1, lợi ích của họ là số 1. Cho nên theo tôi nên ghi câu 2 là bảo đảm công bằng, hợp lý cho các bên và đảm bảo phát triển bền vững trong khai thác sử dụng nguồn nước, bỏ chữ "có lợi".
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Nguyễn Kim Khoa: Luật không nên điều chỉnh hoạt động về phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai do nguồn nước gây ra
Về điều chỉnh đối với nước biển, tôi đồng tình với ý kiến của Ủy ban Kinh tế là trong luật này chỉ điều chỉnh nước biển thuộc phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Ngoài lãnh thổ còn có thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế, tôi thấy điều chỉnh ở luật khác là hợp lý.
Vấn đề thứ hai là đề phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Nội dung này tôi thấy cần cân nhắc kỹ. Nếu các hiện tượng do nước gây ra theo luật nêu ra gồm có nước mặt, nước biển, nước mưa, nước dưới lòng đất... sẽ tạo ra những hiện tượng gồm có lũ lụt, nước biển dâng, sóng thần, bão biển, sụt lở đất, xâm thực hải đảo..., tức là thuộc nước mà nằm trong cả lãnh hải của chúng ta. Nếu theo cách giải thích của Ủy ban Kinh tế thì cũng chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra, tức là hiện nay nó phân tán ở nhiều các luật khác nhau. Nếu thể hiện trong điều luật này có 2 nguyên tắc ở Mục 6, Mục 7 tại Điều 3 hay ở trong cả Chương V thì có 8 điều, nhưng những nội dung đưa ra ở 8 điều này không thể nào phản ánh hết được và đáp ứng được các yêu cầu về mặt tổ chức các biện pháp bảo đảm nguồn lực cho việc phòng, chống tác hại do nước gây ra. Để giải quyết được vấn đề này tôi nghĩ rằng phải có một luật chuyên về vấn đề này đó là Luật Phòng, chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai thì mới có thể điều chỉnh được, còn nếu chỉ có Chương V thì không giải quyết được gì, thậm chí đưa ra những nội dung rất khó hiểu, ví dụ tiêu chuẩn phòng, chống lụt bão. Tôi đề nghị Chương V tập trung vào vấn đề bảo vệ tài nguyên nước trong đó có một số nội dung liên quan đến bảo vệ, không nên điều chỉnh việc phòng chống lụt bão. Luật này không nên điều chỉnh hoạt động về phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai đối với nguồn nước gây ra.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý: Xác định rõ là phí, lệ phí hay thuế?
Thứ nhất là phạm vi điều chỉnh có nói về nước biển, theo Ủy ban Kinh tế thì nước biển điều chỉnh ở văn bản pháp luật khác. Sẽ có 2 văn bản pháp luật điều chỉnh là Luật Biển và Luật Tài nguyên nước, biển và đảo. Trong Luật Biển hiện nay chỉ điều chỉnh quyền tài phán của Việt Nam, tức là quyền về quản lý, sử dụng và khai thác, còn thực hiện việc khai thác, sử dụng, quản lý nước biển thế nào thì không quy định. Do đó tôi đề nghị Ban soạn thảo nếu không điều chỉnh trong này thì đến các luật khác phải điều chỉnh vấn đề này.
Vấn đề thứ hai là quyền khai thác tài nguyên và sau khi nộp tiền, cần phải xác định cái này là phí, lệ phí hay thuế, vì cơ chế quản lý khác nhau. Bây giờ chỉ nói là tiền nộp thì không có nghĩa lý gì, tại sao lại nộp tiền để cấp phép, cái này thu như thế nào, cơ chế quản lý ra sao? Trong Điều 43 quy định là sau khi nộp tiền thì quyền khai thác đó được chuyển nhượng. Như vậy vấn đề ở đây phải xác định là quyền khai thác này là gì, nó là quyền tài sản hay quyền gì, cũng không rõ. Nếu như là quyền tài sản thì không chỉ được chuyển nhượng mà nó phải có các quyền khác nữa đó là quyền thừa kế và một loạt quyền khác theo Bộ luật Dân sự. Tại sao lại chỉ nói mỗi quyền chuyển nhượng. Chỗ này tôi đề nghị phải làm rõ hơn, phải kỹ hơn.
Vấn đề thứ ba, tôi đề nghị làm rõ hơn địa vị pháp lý của tổ chức lưu vực sông. Trong luật này quy định đến 3, 4 điều về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức lưu vực sông nhưng không có một quy định nào về tổ chức đó, về địa vị pháp lý của nó. Tôi đề nghị trong luật đã quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức lưu vực sông nhiều như vậy thì cũng phải có địa vị pháp lý và mối quan hệ giữa tổ chức này và Hội đồng tài nguyên nước quốc gia.
Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển: Đây là loại phí đặc biệt…
Tôi đồng tình việc phải có một khoản thu về cấp quyền khai thác tài nguyên nước và cũng đồng tình phải căn cứ vào giá tài nguyên nước. Tất nhiên cái gì bây giờ nó cũng có giá cả, tuy nhiên thị trường đất đai rõ hơn, còn thị trường về nước này có mức độ. Nếu đưa ra thị trường để đấu giá hoặc có chuyện mua bán thì sẽ rõ ngay. Nhưng thực tế, thị trường này cũng mờ nhạt, hoặc ở một số lĩnh vực nó không thể hiện. Cho nên quan điểm của tôi thì tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước này được căn cứ vào giá tài nguyên nước và chất lượng của nước. Nhưng tôi đề nghị thêm một điều nữa là Chính phủ quy định coi như đây là một loại như ta gọi là định giá, định giá để nó tương thích với Luật Giá. Vì riêng đất đai và tài nguyên nước là được định giá.
Vậy mức này nó ở loại nào, thuế, phí hay lệ phí? Như đất đai chẳng hạn, chúng ta cấp quyền sử dụng đất nhưng vẫn thu tiền thuế đất và vẫn đánh tiền thuế đất. Ở đây ta thu tiền cấp quyền khai thác nước nhưng vẫn đánh thuế tài nguyên nước. Vậy thì nó là nhóm gì? Theo tôi, đây chính là một loại lệ phí đặc biệt, nó không phải phí, vì phí là “anh” phải sử dụng dịch vụ, đây không phải dịch vụ. Thuế thì đã phân biệt rõ ràng, tiền thuê đất rõ ràng, đây là thực ra là một loại lệ phí, khi “tôi” cấp cho “anh” một cái giấy để “anh” có quyền gì đó thì “tôi” phải thu một khoản, đó chính là lệ phí. Tuy nhiên đây là lệ phí đặc biệt, nó không nằm trong danh mục phí và lệ phí của pháp lệnh cũng như thu tiền cấp quyền sử dụng đất cũng vậy. Việc này tôi nghĩ cũng có thể quy định ở luật này được.

