Những định hướng lớn về dân số và phát triển trong tình hình mới
Trước những biến đổi về mức sinh, cơ cấu dân số và yêu cầu nâng cao chất lượng dân số, công tác dân số cần gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững. Trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân, Phó Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) Hoàng Thị Thơm nhấn mạnh các ưu tiên: Tăng tỷ lệ sinh để đạt mức sinh thay thế trên phạm vi toàn quốc, giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, chủ động thích ứng với già hóa và nâng cao chất lượng dân số.
Đặt con người ở trung tâm chính sách dân số và phát triển
- Xin bà cho biết, trước những biến đổi về quy mô, cơ cấu và yêu cầu nâng cao chất lượng dân số, đâu là những định hướng lớn của công tác dân số và phát triển trong tình hình mới?
- Trước những biến đổi về quy mô, cơ cấu dân số và yêu cầu nâng cao chất lượng dân số, chính sách dân số của Việt Nam đã chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, đặt con người ở vị trí trung tâm, gắn các mục tiêu dân số với phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước, cụ thể:

Thứ nhất, tăng tỷ lệ sinh để đạt mức sinh thay thế trên phạm vi toàn quốc. Tập trung thực hiện Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030 theo Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu đến năm 2030, 100% tỉnh, thành phố thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con giải quyết những điều kiện thực tế ảnh hưởng đến quyết định sinh con, tạo điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động quyết định việc sinh con, nuôi dạy con; đồng thời từng bước giảm áp lực về việc làm, thu nhập, nhà ở và chi phí chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là tại các tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
Thứ hai, giảm tỷ số giới tính khi sinh, từng bước tiến tới đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên. Triển khai đầy đủ, đồng bộ và quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động, giáo dục nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi; nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi.
Thứ ba, chủ động thích ứng với già hóa dân số. Khuyến khích mỗi cá nhân chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ; phát triển nguồn nhân lực, hệ thống chăm sóc người cao tuổi; phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội trong phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi. Nhà nước có chính sách hỗ trợ các nhóm đối tượng ưu tiên chuẩn bị cho tuổi già, khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của từng nhóm người cao tuổi.
Thứ tư, nâng cao chất lượng dân số thông qua khuyến khích nam, nữ chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khoẻ trước khi kết hôn; đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe sinh sản; khuyến khích khám sàng lọc bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh theo danh mục bệnh cần sàng lọc.
Cá nhân, cặp vợ chồng được quyền tiếp cận đầy đủ, bình đẳng và không bị phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản; tự đưa ra quyết định liên quan đến sức khỏe sinh sản trên cơ sở hiểu biết, tự nguyện và tôn trọng quyền, lợi ích của cá nhân.
Thứ năm, bảo đảm các điều kiện thực hiện công tác dân số, gồm nguồn lực tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hệ thống dữ liệu dân số. Đồng thời, chính quyền địa phương chủ động bố trí kinh phí, ban hành chính sách hỗ trợ phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, tình hình dân số trên địa bàn.
Những định hướng này đã được thể hiện xuyên suốt trong Luật Dân số số 113/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
- Định hướng nâng cao chất lượng dân số được cụ thể hóa như thế nào thông qua chuỗi chăm sóc sức khỏe liên tục, bắt đầu từ giai đoạn vị thành niên, thanh niên, chuẩn bị kết hôn, mang thai, sinh con với các dịch vụ tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn, sàng lọc trước sinh và sơ sinh, thưa bà?
- Một trong những định hướng quan trọng của công tác dân số hiện nay là chuyển tiếp cận sang chuỗi chăm sóc sức khỏe liên tục, bắt đầu từ giai đoạn vị thành niên, thanh niên, chuẩn bị kết hôn, mang thai, sinh con thông qua thực hiện đầy đủ dự phòng 3 cấp. Những nội dung trọng tâm của vấn đề này bao gồm:
Thứ nhất, chăm sóc sức khỏe từ giai đoạn vị thành niên, thanh niên và chuẩn bị kết hôn. Điều 20 Luật Dân số khuyến khích nam, nữ chủ động tiếp cận và sử dụng dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, nhằm phát hiện, phòng ngừa, hướng dẫn điều trị các bệnh lý có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe khi kết hôn, mang thai, sinh con, nuôi con và các nguy cơ sinh con bị bệnh, tật bẩm sinh. Nội dung chuyên môn được hướng dẫn tại Quyết định số 3472/QĐ-BYT ngày 07/11/2025 của Bộ Y tế.
Thứ hai, đẩy mạnh sàng lọc, chẩn đoán và điều trị trước sinh, sơ sinh nhằm phát hiện, can thiệp và điều trị sớm các bệnh, tật, rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay trong giai đoạn bào thai và sơ sinh, giúp trẻ sinh ra phát triển bình thường hoặc tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất, trí tuệ, giảm thiểu số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng góp phần nâng cao chất lượng dân số.
Để triển khai quy định này, Chính phủ ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 12/2026/TT-BYT ngày 15/5/2026, Thông tư số 34/2017/TT-BYT ngày 18/8/2017; Thông tư số 30/2019/TT-BYT ngày 03/12/2019; Quyết định số 2818/QĐ-BYT ngày 07/9/2026 quy định cụ thể một số nội dung liên quan đến sàng lọc, chẩn đoán và điều trị trước sinh, sơ sinh.
Giá trị cốt lõi của chuỗi chăm sóc sức khỏe này là chủ động phòng ngừa từ sớm, phát hiện nguy cơ kịp thời và can thiệp liên tục ở từng giai đoạn. Để làm được điều đó, cần nâng cao nhận thức của người dân, mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ có chất lượng; đặc biệt đối với các nhóm dân cư còn khó khăn trong tiếp cận dịch vụ.
- Theo bà, trước xu hướng mức sinh giảm, những chính sách và giải pháp nào cần được ưu tiên để gia tăng tỷ lệ sinh để đạt mức sinh thay thế bền vững trên phạm vi toàn quốc?
- Trước xu hướng mức sinh giảm, mục tiêu đặt ra không đơn thuần là gia tăng số trẻ được sinh ra, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng tự nguyện quyết định sinh con, hướng tới duy trì mức sinh thay thế bền vững trên phạm vi toàn quốc.
Luật Dân số số 113/2025/QH15 đã quy định các biện pháp duy trì mức sinh thay thế, gồm: tăng thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ sinh con thứ hai lên 7 tháng và quy định thời gian nghỉ đối với lao động nam khi vợ sinh con thứ hai; hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với các nhóm đối tượng theo quy định; ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội đối với người có từ hai con đẻ trở lên. Đồng thời, căn cứ khả năng cân đối ngân sách nhà nước, chính quyền địa phương cấp tỉnh có thể quy định mức hỗ trợ cao hơn và các đối tượng, biện pháp bổ sung để duy trì mức sinh thay thế theo thẩm quyền.
Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, có chính sách phù hợp hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con thông qua các chính sách lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và chính sách khác để tăng tỷ lệ sinh, đạt mức sinh thay thế; ưu tiên đối với tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
Bên cạnh đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp: Thứ nhất, tăng cường trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện chính sách dân số. Phân công rõ trách nhiệm, tăng cường phối hợp liên ngành, kiểm tra, giám sát và gắn kết quả thực hiện với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu.
Thứ hai, đẩy mạnh truyền thông, vận động thay đổi hành vi, đặc biệt đối với nam, nữ thanh niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ: Tiếp tục thực hiện tuyên truyền về lợi ích của việc kết hôn và sinh con ở độ tuổi phù hợp; khuyến khích chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khoẻ trước khi kết hôn, dự phòng vô sinh, điều trị vô sinh.
Thứ ba, mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan, đảm bảo công bằng, bình đẳng để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh; xây dựng, triển khai các loại hình dự phòng vô sinh tại cộng đồng; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới hỗ trợ sinh sản.
Chính sách cần đi vào những nhu cầu thiết thực nhất của người dân, tạo nền tảng để nâng mức sinh một cách tự nguyện, bền vững, góp phần bảo đảm nguồn nhân lực và phát triển đất nước trong dài hạn.
Bảo đảm nguồn lực và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện
- Xin bà chia sẻ về ý nghĩa của việc kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh đối với dân số và phát triển, cùng những giải pháp trọng tâm trong thời gian tới?
- Mất cân bằng giới tính khi sinh là một trong những thách thức lớn đối với công tác dân số ở Việt Nam hiện nay. Năm 2025, tỷ số giới tính khi sinh là 110 bé trai sinh ra sống/100 bé gái sinh ra sống, cao hơn mức cân bằng tự nhiên (104-106/100). Trong dài hạn, mất cân bằng giới tính khi sinh dẫn đến tình trạng thừa nam, thiếu nữ trong độ tuổi kết hôn gây mất cân đối cơ cấu dân số, ảnh hưởng đến ổn định xã hội và thị trường lao động, làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng giới, bạo lực trên cơ sở giới, mua bán phụ nữ và trẻ em gái và các vấn đề về an ninh, trật tự xã hội.
Việc kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh góp phần thực hiện mục tiêu phát triển dân số bền vững, bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới; giảm thiểu các hậu quả về an ninh và trật tự an toàn xã hội, cải thiện bình đẳng giới, phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững cho các địa phương và toàn quốc.
Trong thời gian tới, Bộ Y tế dự kiến đưa mục tiêu giảm tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên vào năm 2035 và xác định cần ưu tiên triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp trong công tác kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; chủ động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch với mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình cụ thể; phát huy vai trò, trách nhiệm và huy động sự tham gia tích cực của các ngành, đoàn thể, tổ chức trong quá trình triển khai thực hiện.
Thứ hai, đẩy mạnh và đổi mới nội dung, hình thức truyền thông, vận động, giáo dục về bình đẳng giới, nguyên nhân và hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh. Phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, dòng họ và sự tham gia của nam giới trong truyền thông, vận động xóa bỏ tư tưởng trọng nam hơn nữ. Tăng cường giáo dục về mất cân bằng giới tính khi sinh trong nhà trường.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả kiểm tra chuyên ngành và xử lý nghiêm hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi trái quy định.
Thứ tư, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích nhằm nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ, trẻ em gái; xây dựng, thí điểm và nhân rộng các mô hình nhằm xóa bỏ định kiến giới, nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ và trẻ em gái.
Thứ năm, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; thực hiện nghiên cứu khoa học và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý; tăng cường, mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế.

- Trước tốc độ già hóa dân số nhanh, Việt Nam cần ưu tiên những chính sách và giải pháp nào để chủ động thích ứng với già hóa dân số?
- Thích ứng với già hóa dân số là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài, đòi hỏi sự chung tay của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, gia đình và mỗi cá nhân, hướng tới mục tiêu giúp người dân không chỉ sống lâu mà còn sống khỏe mạnh, có chất lượng và tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Trong thời gian tới, tập trung vào một số giải pháp ưu tiên sau:
Thứ nhất, triển khai hiệu quả các chính sách nhằm gia tăng tỷ lệ sinh để đạt mức sinh thay thế, góp phần làm chậm tốc độ già hóa dân số trong dài hạn.
Thứ hai, đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân về chủ động chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ. Đồng thời, khuyến khích gia đình, cộng đồng tham gia chăm sóc người cao tuổi, nâng cao ý thức chủ động thích ứng với già hóa dân số.
Thứ ba, quan tâm chăm sóc người cao tuổi, phát triển đa dạng các hình thức chăm sóc người cao tuổi; hỗ trợ cải thiện năng lực xã hội, năng lực tự chăm sóc của người cao tuổi phù hợp mức độ tự chủ, nhu cầu của từng nhóm người cao tuổi.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn cho người thực hiện chăm sóc người cao tuổi tại nhà, tại cộng đồng. Lồng ghép nội dung chuyên ngành lão khoa vào chương trình cập nhật kiến thức y khoa liên tục; khuyến khích hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực chuyên ngành lão khoa, ưu tiên các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, đơn vị hành chính cấp xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
- Để hiện thực hóa các định hướng lớn về dân số và phát triển, theo ông/bà, cần bảo đảm những điều kiện gì về nguồn lực và tổ chức thực hiện?
- Các vấn đề dân số hiện đều mang tính dài hạn, tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Vì vậy, không thể chỉ giải quyết bằng những giải pháp riêng lẻ, ngắn hạn mà cần có sự đầu tư lâu dài, cơ chế phối hợp chặt chẽ và sự tham gia của toàn xã hội. Theo đó, cần tập trung bảo đảm một số điều kiện quan trọng sau:
Thứ nhất, bảo đảm nguồn lực tài chính và cơ chế đầu tư phù hợp cho công tác dân số. Cần ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, đồng thời huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hợp pháp khác để triển khai các chương trình, chính sách dân số.
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và phối hợp liên ngành trong tổ chức thực hiện. Yếu tố dân số cần được lồng ghép chặt chẽ vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội… của từng ngành, từng địa phương phù hợp với đặc điểm dân số, điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách của mình.
Thứ ba, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác dân số, đặc biệt tại cơ sở, phát huy vai trò của mạng lưới cộng tác viên dân số trong tuyên truyền, vận động, tư vấn về chính sách dân số; cung cấp các phương tiện tránh thai phi lâm sàng; theo dõi và cập nhật tình hình dân số tại địa bàn nhằm kịp thời phát hiện, đề xuất giải pháp đối với các vấn đề dân số phát sinh.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng hệ thống thông tin và dữ liệu dân số phục vụ công tác dự báo, hoạch định chính sách, quản lý và tổ chức cung cấp dịch vụ. Đồng thời, đổi mới phương thức truyền thông, ứng dụng các nền tảng số để nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, chính sách và dịch vụ dân số của người dân.
Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện để kịp thời tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh các giải pháp phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, chú trọng tổng kết, nhân rộng các mô hình, cách làm hiệu quả trong công tác dân số.
Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc của các cấp, các ngành và toàn xã hội, cùng với việc bảo đảm nguồn lực và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, công tác dân số sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào việc phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

