Những chính sách giáo dục có hiệu lực từ tháng 5 năm 2026
Thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh về dạy thêm, học thêm; Sử dụng dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời trên ứng dụng định danh quốc gia VnelD; số hóa hồ sơ sổ sách nhà trường, giáo viên theo hướng tinh gọn, hiệu quả;... là những chính sách giáo dục sẽ có hiệu lực từ tháng 5 năm nay.
Thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh về dạy thêm, học thêm ở tất cả cấp quản lý
Từ ngày 15/5, Thông tư số 19/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT ngày 30/12/2024 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT quy định về dạy thêm, học thêm chính thức có hiệu lực.
Thông tư 19 tiếp tục không cấm dạy thêm, học thêm chính đáng; không hạn chế nhu cầu học tập hợp pháp của người học và quyền dạy học của giáo viên. So với quy định trước đây, Thông tư mới làm rõ hơn về khái niệm dạy thêm, học thêm, phân định ranh giới giữa dạy thêm, học thêm và các hoạt động giáo dục tăng cường, bổ trợ được phép tổ chức để phát triển toàn diện học sinh theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Thông tư nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hoạt động dạy thêm của giáo viên theo quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức và những điều nhà giáo không được làm theo Luật Nhà giáo. Giáo viên dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm minh bạch về nội dung, địa điểm, thời gian và các mối quan hệ liên quan nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích.
Thông tư 19 tiếp tục quy định mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 2 tiết/tuần. Tuy nhiên, tại Thông tư này, Hiệu trưởng được trao quyền chủ động hơn trong tổ chức dạy thêm tại nhà trường khi đề xuất với Giám đốc Sở GD-ĐT cho phép tăng thời lượng dạy thêm đối với một số đối tượng học sinh theo quy định, đi kèm trách nhiệm giải trình.

Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lý, theo dõi, nhắc nhở, cụ thể hóa các nội dung liên quan tới nhà giáo tại quy định về dạy thêm, học thêm trong quy tắc ứng xử của nhà giáo do Hiệu trưởng ban hành theo thẩm quyền; xử lý hoặc kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm, bảo đảm không để xảy ra dạy thêm trái phép kéo dài, phức tạp trong phạm vi quản lý.
Thông tư yêu cầu cơ sở dạy thêm ngoài nhà trường công khai, cập nhật đầy đủ các thông tin về chương trình, thời lượng, danh sách giáo viên và mức thu nhằm bảo đảm tính minh bạch và tăng cường sự giám sát của xã hội. Thông tư cũng quy định thiết lập đường dây nóng ở tất cả các cấp quản lý, từ nhà trường, UBND cấp xã đến Sở GD-ĐT, nhằm tiếp nhận và xử lý kịp thời phản ánh của học sinh, phụ huynh và người dân.
Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy thêm, học thêm được thực hiện theo nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thẩm quyền; kịp thời phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm. Thông tư quy định rõ xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm, tái phạm hoặc có hành vi ép buộc, trục lợi trong hoạt động dạy thêm, học thêm.
Sử dụng dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời trên ứng dụng định danh quốc gia VnelD
Nghị định số 88/2026/NĐ-CP của Chính phủ Quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo có hiệu lực từ ngày 15/5.
Nghị định số 88/2026/NĐ-CP nêu rõ, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo thẩm quyền có trách nhiệm chuẩn bị, xây dựng hệ thống công nghệ hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp phục vụ việc tạo lập, báo cáo dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời theo quy định.
Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời sau khi được tiếp nhận, lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo sẽ được chia sẻ, liên thông tích hợp tự động trên ứng dụng định danh quốc gia VNelD. Các cá nhân có quyền khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của bản thân đã được tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia để sử dụng tương đương cho các loại văn bản giấy liên quan.
Số hóa hồ sơ sổ sách nhà trường, giáo viên theo hướng tinh gọn, hiệu quả
Từ ngày 10/5, Thông tư số 15/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT ban hành Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học chính thức có hiệu lực.
Điều lệ mới quy định toàn diện các nội dung về tổ chức và quản lý nhà trường; nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường; tổ chức hoạt động giáo dục; nhiệm vụ, quyền của giáo viên, nhân sự hỗ trợ giáo dục và học sinh; tài chính, tài sản; mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
Một trong những điểm đáng chú ý là việc số hóa hồ sơ sổ sách nhà trường, giáo viên theo hướng tinh gọn, hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhà trường được chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện thực tiễn và đặc điểm người học, bảo đảm thực hiện đúng chương trình giáo dục phổ thông. Đồng thời, được quyết định phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, trong đó tăng cường các nội dung như giáo dục STEM/STEAM, năng lực số, trí tuệ nhân tạo (AI), hướng nghiệp, kỹ năng sống, giáo dục hòa nhập và các hoạt động trải nghiệm.

Điều lệ quy định rõ trách nhiệm của nhà trường trong việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, dân chủ, kỷ cương; phòng, chống bạo lực học đường; phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh, đồng thời thực hiện công khai cam kết chất lượng giáo dục, các điều kiện bảo đảm chất lượng và thu, chi tài chính theo quy định.
Thông tư số 15/2026/TT-BGDĐT đồng thời thay thế các văn bản hiện hành gồm: Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT về Điều lệ trường tiểu học; Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT về Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học; cùng các quy định liên quan đến chuyển trường và xét tốt nghiệp THCS.
Tinh gọn bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học
Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học, thay thế Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT, sẽ có hiệu lực vào ngày 15/5 tới đây.
Thông tư mới được ban hành nhằm đổi mới căn bản công tác kiểm định chất lượng, chuyển từ cách tiếp cận “đạt chuẩn” sang “cải tiến chất lượng liên tục”, tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Thông tư được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, đồng thời tham chiếu có chọn lọc các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA). Một trong những điểm đổi mới nổi bật là việc tinh gọn bộ tiêu chuẩn đánh giá: từ 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí xuống còn 15 tiêu chuẩn, 60 tiêu chí, được cấu trúc theo ba nhóm chính gồm: Chiến lược, Hệ thống và Kết quả. Cách tiếp cận này giúp giảm trùng lặp, tập trung vào các yêu cầu cốt lõi và phản ánh đầy đủ chu trình quản trị chất lượng của cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo hướng thực chất, dựa trên vận hành và hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng, thay vì chỉ dừng lại ở việc kiểm tra sự tuân thủ hồ sơ.
Thông tư xác lập rõ việc chuyển từ kiểm định dựa trên “tuân thủ quy định” sang “cải tiến chất lượng liên tục”. Theo đó, chất lượng được đánh giá không chỉ ở mức đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu, mà còn ở mức độ cơ sở giáo dục đạt được mục tiêu do chính mình xác lập, phù hợp với yêu cầu pháp luật và nhu cầu xã hội.
Đáng chú ý, Thông tư quy định ba mức đánh giá gồm: đạt, đạt có điều kiện và không đạt. Cơ chế “đạt có điều kiện” cho phép các cơ sở giáo dục có thời gian hoàn thiện những tiêu chí còn hạn chế, bảo đảm vừa duy trì chuẩn chất lượng, vừa tạo điều kiện cải tiến kịp thời.

Thiết lập chuẩn chung về năng lực ngoại ngữ áp dụng trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân
Ngày 15/4, Bộ GD-ĐT ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BGDĐT về Ban hành Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam, nhằm thiết lập một chuẩn chung về năng lực ngoại ngữ áp dụng trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân, tạo cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và công nhận kết quả học tập. Qua đó, giúp người học định hướng rõ ràng lộ trình phát triển năng lực ngoại ngữ, đồng thời hỗ trợ các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường tính liên thông giữa các bậc học và trình độ đào tạo.
Một trong những điểm nổi bật của Thông tư là việc cập nhật Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam theo Khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) phiên bản mới (2020–2021), bảo đảm tính tương thích với các chuẩn đánh giá quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho việc công nhận văn bằng, chứng chỉ giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
Bên cạnh đó, Thông tư đã bổ sung mức “Tiền bậc 1” (Pre-A1), góp phần hoàn thiện hệ thống đánh giá từ người mới bắt đầu học ngoại ngữ, đặc biệt phù hợp với xu hướng dạy và học ngoại ngữ từ lứa tuổi nhỏ tại Việt Nam. Việc bổ sung này giúp mở rộng phổ trình độ đào tạo, bảo đảm tính liên tục và toàn diện của Khung năng lực.
Thông tư cũng chú trọng việc làm rõ và chi tiết hóa các mô tả năng lực ở từng kĩ năng như nghe, nói, đọc, viết, qua đó giúp giáo viên, người học và các cơ sở đào tạo dễ dàng áp dụng trong thực tiễn giảng dạy và đánh giá. Nội dung Khung được thiết kế theo hướng cụ thể, dễ hiểu, gắn với các tình huống sử dụng ngôn ngữ thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học ngoại ngữ.
Đối với một số ngôn ngữ đặc thù như tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật và tiếng Hàn, Thông tư quy định việc sử dụng các khung năng lực do quốc gia sở tại ban hành nhằm bảo đảm phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ và thông lệ quốc tế.
Thông tư số 33/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/5 tới đây.
Sách giáo khoa điện tử phải bảo đảm tính ổn định, bảo mật
Thông tư số 22/2026/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa (SGK) bản in sang SGK điện tử; tổ chức thẩm định SGK điện tử sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 22/5.
Theo Thông tư, SGK điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được Bộ trưởng Bộ GD-ĐT phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác, sư phạm của nội dung dạy học; phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định của pháp luật về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quy chuẩn bảo mật, quy chuẩn về lưu chiểu và các quy định của pháp luật có liên quan.
SGK điện tử gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam và phù hợp với xu thế giáo dục tiên tiến trên thế giới. SGK điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in; không mang tính bắt buộc đối với cơ sở giáo dục, giáo viên, học sinh; không thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu người dùng trái quy định hiện hành; bảo mật thông tin của cá nhân học sinh và giáo viên theo quy định của pháp luật.
Thông tư quy định SGK điện tử không chèn quảng cáo, nội dung kinh doanh; không chứa và không được hiển thị các liên kết độc hại hoặc nội dung không phù hợp với mục đích giáo dục.
Cũng theo Thông tư, SGK điện tử phải tuân thủ các quy định hiện hành về kĩ thuật của xuất bản phẩm điện tử, khuyến khích sử dụng các chuẩn mở quốc tế cho xuất bản phẩm điện tử giáo dục. SGK điện tử bảo đảm tính năng hỗ trợ sử dụng ngoại tuyến đối với nội dung tĩnh; sử dụng trên thiết bị cấu hình thấp; tích hợp các tính năng công nghệ hỗ trợ tiếp cận dành cho đối tượng học sinh khuyết tật và người yếu thế.
Về hạ tầng và bảo mật SGK điện tử, Thông tư quy định, hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu đặt tại Việt Nam, có tên miền Internet Việt Nam; được bảo trì định kì và tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng; bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng theo quy định hiện hành.

