Nhiều lỗi ở một công trình dịch thuật
Đó là bản dịch Hành trình cùng triết học của Lưu Văn Hy (NXB Văn hóa - Thông tin, 2001) từ cuốn tự điển đồ sộ bằng tiếng Anh do Ted Honderich chủ biên: The Oxford Companion to Philosophy của Nhà xuất bản Đại học Oxford.
Có thể nói rằng những người nghiên cứu - học tập triết học nghiêm túc khó mà đặt niềm tin vào công trình này của dịch giả Lưu Văn Hy bởi nó chứa đựng nhiều lỗi nguyên tắc mà một cuốn tự điển không được phép mắc phải.
Chưa cần nói đến đầm đìa lỗi typo, cuốn tự điển (tiếng Việt) này phạm những sai sót sau (chỉ nêu lên một số dẫn chứng):
1. Sự thiếu nhất quán khi phiên dịch thuật ngữ, danh từ, khái niệm ra tiếng Việt:
- Có đến ba tên gọi một tác phẩm của Hegel: Hiện tượng luận về trí năng/ Hiện tượng luận về trí tuệ/ Hiện tượng luận về tinh thần.
- Có đến ba tên gọi một tác phẩm của Kant: Phê bình óc phán đoán/ Phê bình sự phán đoán/ Phê bình phán đoán.
- Khái niệm hiện sinh “bad faith” (tiếng Pháp là mauvaise fois) thì có chỗ dịch là “niềm tin giả tạo”, có chỗ dịch là “niềm tin tệ hại”, cả hai cách dịch đều không đúng, trong khi chúng ta đã có sẵn một cách dịch phổ biến: ngụy tín.
- Categorical imperative: mệnh lệnh tuyệt đối/ mệnh lệnh bắt buộc. Đề nghị dịch: mệnh lệnh nhất thiết.
2. Dịch sai:
- Ad hominem argument: đối thủ luận. Sai, vì argument là luận cứ, chứ không phải là hệ thống, học thuyết, ngành học… Nên dịch là: luận cứ đả phá cá nhân.
- Benevolence: sự khoan dung. Dịch đúng là: Lòng nhân từ. Trong khi ở chỗ khác lại dịch đúng chữ toleration là sự bao dung. Mà “bao dung” hay “khoan dung” thì có thể như nhau trong tiếng Việt, nhưng benevolence và toleration chắc chắn là khác nghĩa.
- Res extensa: bản thể mở rộng. Dịch đúng: bản thể có quảng tính/ có trương độ (tức là bản thể vật chất) để đối lập với res cogitans (bản thể tinh thần/suy tưởng), LVH dịch là sự vật biết suy nghĩ.
- Manifold of sense: bản sao của cảm giác. Dịch đúng: đa tạp của cảm quan.
- The unconscious which he did not discover is the notion that if those everyday explanations which invoke motives, desires, impulses etc. and normally carry the implication that the subject is authoritative with respect to them, are extended to cases in which this implication is suspended, behaviour otherwise perplexing can be explained: Do đó vô thức mà ông không khám phá ra là khái niệm hàng ngày mà cách lý giải nhờ vào các động cơ thúc đẩy, khát vọng, hay thôi thúc v.v., và sự thường gợi ý là chủ thể có quyền lực trên chúng, được mở rộng tới các trường hợp trong đó sự gợi ý này không còn nữa, nói một cách khác, hành vi xử sự rắc rối khó có thể cắt nghĩa được.
(Quá tối tăm, rắc rối và sai! Đề nghị dịch: vô thức mà ông không khám phá là ý niệm cho rằng nếu các giải thích hằng ngày vốn viện đến những động cơ, ước muốn, và xung lực, v.v... và vốn thường mang hàm ý rằng chủ thể có thẩm quyền liên quan đến chúng, được mở rộng đến các trường hợp mà hàm ý này (chủ thể có thẩm quyền) vắng mặt, thì hành vi khó hiểu khác vẫn có thể giải thích được).
3. Có chỗ dịch đúng, có chỗ dịch sai (dĩ nhiên là thiếu nhất quán):
- Civil disobedience: sự bất phục luật dân sự (sai); bất tuân dân sự (đúng). Chúng ta cũng đã có cách dịch quen thuộc: bất phục tùng dân sự.
4. Tùy tiện không dịch nhiều đoạn, nhiều câu trong mục từ:
- Trong mục từ Jeremy Bentham
- Trong mục từ George Berkeley
- Trong mục từ Cartesianism.
Thậm chí bỏ hẳn cả mục từ:
- Mục từ “bladders of philosophy”

