Chính trị

Nhân dân anh hùng - đất nước anh hùng(*)

TS. Bùi Ngọc Thanh - Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội 24/07/2026 12:31

Trong không khí cả nước đang hướng về kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), xin được đề cập tới một số trường hợp người có công đã có sự đóng góp, hy sinh lớn lao đặc biệt.

Những Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Trong hơn 50.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có những trường hợp vô cùng đặc biệt, “anh hùng của những anh hùng”:

1. Bà mẹ Việt Nam anh hùng có nhiều thân nhân là liệt sĩ nhất, đó là Mẹ Nguyễn Thị Thứ, sinh năm 1904, quê xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mẹ có chồng, 9 con ruột, 1 con rể và 2 cháu ngoại là liệt sĩ. 4 con là liệt sĩ chống Pháp gồm: Lê Tự Hàn (anh), Lê Tự Hàn (em), Lê Tự Lan và Lê Tự Xuyên; 5 con là liệt sĩ chống Mỹ gồm: Lê Tự Trịnh, Lê Tự Chuyên, Lê Tự Thịnh, Lê Tự Mười và Lê Tự Nụ.

Hình ảnh Mẹ Thứ được chọn làm nguyên mẫu của Tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng với ý nghĩa, Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, là linh hồn đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hóa thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời, vẫn tiếp thêm nguồn sức lực mạnh mẽ, dồi dào cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Ba chị em ruột đều là Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận đó là: Bà Bùi Thị Hải có chồng và 4 con là liệt sĩ. Bà Bùi Thị Tư có 3 con là liệt sĩ. Bà Bùi Thị Nhỏ có 4 con là liệt sĩ.

3. Mẹ, con gái, con dâu đều là Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Diệp, xã Bình Phong Thạch, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An có 3 con là liệt sĩ; Con gái thứ 3 của mẹ, bà Nguyễn Thị Rằng là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có 4 con là liệt sĩ; con dâu mẹ, bà Võ Thị Thanh là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 2 con là liệt sĩ.

4. Bản thân, mẹ đẻ, mẹ chồng đều là Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Trường hợp 1, bà Nguyễn Thị Vinh, sinh năm 1920 ở xã Thanh Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 6 con là liệt sĩ. Mẹ đẻ của bà là cụ Phạm Thị Khuyên cũng là mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 2 con là liệt sĩ. Mẹ chồng của bà là cụ Lê Thị Quý cũng là mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 2 con là liệt sĩ.

Trường hợp 2, bà Nguyễn Thị Bích, sinh năm 1935, ở xã Thanh Nhựt, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 2 con là liệt sĩ. Mẹ đẻ của bà, cụ Ngô Thị Lộc cũng là mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 2 con là liệt sĩ. Mẹ chồng của bà, cụ Huỳnh Thị Thôi là mẹ Việt Nam anh hùng, có 3 con là liệt sĩ.

Quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng được thiết kế dựa trên nguyên mẫu chân dung Mẹ Nguyễn Thị Thứ – người mẹ có 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại đều là liệt sĩ trong hai cuộc kháng chiến - Đình Nguyên/ Cổng Thông tin điện tử Thành phố Đà Nẵng

4. Một gia đình có 4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng: mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Đỉnh, xã Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế có chồng và 5 con là liệt sĩ. Con gái mẹ, bà Vương Thị Lành được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, bản thân bà và 3 con là liệt sĩ. Con dâu mẹ, Trung úy công an Phan Thị Thế là mẹ Việt Nam anh hùng, có con độc nhất là liệt sĩ. Con dâu mẹ, bà Phan Thị Vũ được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 3 con là liệt sĩ.

5. Ba mẹ con đều là mẹ Việt Nam anh hùng: Cụ Võ Thị Diện, sinh năm 1895, quê xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam là mẹ Việt Nam anh hùng, có 3 con là liệt sĩ. Con gái thứ 3 của cụ, bà Nguyễn Thị Tu cũng là mẹ Việt Nam anh hùng, có 2 con mà cả 2 đều là liệt sĩ. Con gái thứ 6 của cụ, bà Nguyễn Thị Chuyên là mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng và 2 con là liệt sĩ.

6. Mẹ anh hùng, con cũng anh hùng: Mẹ Phan Thị Vòng, sinh năm 1916, quê xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng bởi mẹ có 3 con là liệt sĩ. Con gái mẹ, bà Đặng Thị Liễu được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng bởi có chồng và con độc nhất là liệt sĩ.

7. Mẹ chồng anh hùng, nàng dâu cũng anh hùng: Trường hợp 1, mẹ Huỳnh Thị Khiết, sinh năm 1910, quê xã Hòa Thắng, huyện Bắc Ninh, tỉnh Bình Thuận, được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, có 4 con là liệt sĩ. Con dâu mẹ, bà Lê Thị Phất cũng là mẹ Việt Nam anh hùng bởi có chồng và 4 con là liệt sĩ. Trường hợp 2, mẹ Dương Thị Thiện, quê xã Nga Bạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa được truy tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng có con độc nhất là liệt sĩ. Con dâu của mẹ, bà Trần thị Ken được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, cũng có con độc nhất là liệt sĩ...

Ngay trong thời kỳ chiến tranh, Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đã đánh giá cống hiến lớn lao của phụ nữ Việt Nam bằng 8 chữ vàng: Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang. Đánh giá đó vẫn nguyên nghĩa, nguyên giá trị cho đến bây giờ. Đó là những phẩm chất cốt lõi luôn khắc sâu trong lòng tự hào dân tộc, đã trở thành tượng đài về phẩm giá, đạo đức, cuộc sống của Phụ nữ Việt Nam mà các Mẹ là những tấm gương trong sáng ngời ngời.

Những con người "muôn năm sống"

Trong số 1,2 triệu người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của đất nước, vì Tổ quốc yêu thương, có thể nói, mỗi chiến sĩ hy sinh là một anh hùng. Nhưng “tình dài, giấy vắn”, xin chỉ nêu lên một hai tên tuổi để tưởng nhớ đến muôn vàn tên tuổi trên khắp mọi miền của Tổ quốc:

1. Thân nhân đầu tiên của liệt sĩ nhận được bức thư cảm động: Đó là bác sĩ Vũ Đình Tụng – Giám đốc Y tế Bắc Bộ nhận được bức thư của Bác Hồ khi con trai của bác sĩ, anh Vũ Chí Thành, tự vệ thành Hoàng Diệu hy sinh ngày 2/1/1947. Bức thư(1) viết:

Thưa Ngài,

Tôi được báo cáo rằng: Con giai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng, Cháu và anh em thanh niên khác, dũng cảm hy sinh, để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi. Vật chất họ mất nhưng tinh thần họ sẽ luôn luôn còn với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc.

Những thanh niên đó là dân tộc anh hùng. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món của quí báu nhất - là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà, thì Linh hồn Cháu ở trên trời cũng bằng lòng và vui sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào quyết thắng!

7/1/47 Hồ Chí Minh"

Sau khi đọc thư, bác sĩ Vũ Đình Tụng cho biết, “Tôi ngỡ đây là một mệnh lệnh của Chính phủ, nhưng thật không ngờ, đây lại là một thư riêng của Người, hỏi thăm gia đình bé nhỏ của tôi... Đọc xong bức thư tôi thấy bàng hoàng. Bác trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.

Tôi thấy nỗi đau thương và hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác Hồ với dân tộc. Tôi tự nhủ mình sẽ phải làm công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác”(2).

2. Liệt sĩ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam: Đó là Tiểu đội trưởng Nông Văn Nhúng (tức Xuân Trường), dân tộc Tày; quê xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng; tham gia cách mạng năm 1942, là chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân năm 1944. Đồng chí hy sinh đêm 4/2/1945 trong trận đánh đồn Đồng Mu, trận đánh thứ 3 sau hai trận Phai Khắt và Nà Ngần của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Để tưởng nhớ người con ưu tú của quê hương, Nhân dân Cao Bằng đã đặt tên con đường từ Lũng Phàn đến Đồng Mu huyện Bảo Lạc (cũ) dài 19,2 km là đường Xuân Trường.

3. Liệt sĩ đầu tiên được truy tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội: Đó là đồng chí Cù Chính Lan, sinh năm 1930, quê xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trong trận đánh đồn Cô Tô trên đường số 6 (tỉnh Hòa Bình), đồng chí đã dùng lựu đạn diệt xe tăng địch và đã anh dũng hy sinh ngày 31/1/1952. Đồng chí Cù Chính Lan được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Quân đội (nay là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) tại Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tháng 5/1952. Liệt sĩ Cù Chính Lan được cấp bằng Tổ quốc ghi công số YZ 515b theo quyết định số 1191/TTg ngày 22/12/1956 của Hội đồng Chính phủ.

4. Liệt sĩ đầu tiên của Xưởng phim Quân giải phóng: Đó là đồng chí Nguyễn Phú Thạnh (đơn vị quen gọi là Tám Thạnh), quê xã Thạnh Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Năm 1965, tại chiến trường Bình Giã vô cùng ác liệt, mặc dù bị thương nặng, được lệnh rút về phía sau, nhưng đồng chí vẫn quyết bám lô cốt địch cùng đồng đội quay được nhiều thước phim sống động có giá trị hiện thực cao, thể hiện trong bộ phim “Đồng Xoài rực lửa”. Phim đã kịp thời cổ vũ quân và dân ta hăng hái tiến công địch trên khắp các chiến trường...

Đến trận phục kích Lữ đoàn dù số 173 của địch trên đường 15 thuộc địa phận xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Bà Rịa (nay là Bà Rịa – Vũng Tàu), trận chiến ác liệt, dữ dội. Đồng chí vừa tác nghiệp vừa động viên bộ đội xông lên. Khi đứng trên gò mối cao quay cảnh quân ta xông lên ào ạt, đồng chí bị trúng một quả M79 của địch, ngã xuống! Quân ta tiếp tục tiến công như vũ bão tiêu diệt địch, phá hủy xe cơ giới, bắt sống tù binh. Đồng chí Nguyễn Phú Thạnh là phóng viên chiến trường, là Liệt sĩ đầu tiên của Xưởng phim Quân giải phóng, được truy tặng Huân chương Chiến công Quân giải phóng hạng nhì.

5. Liệt sĩ, chiến sĩ - Nghệ sĩ: Đó là nhà thơ Lê Anh Xuân (tên thật là Ca Lê Hiến), quê xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre(3). Tháng 12/1964 đang là cán bộ giảng dạy Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đồng chí từ chối đi nghiên cứu sinh nước ngoài để trở về miền Nam chiến đấu với tư cách là chiến sĩ - Nghệ sĩ và gia nhập Đảng năm 1966. Với tuyên bố, trở về Nam mà chỉ quan sát để viết thì về làm gì, đồng chí đã kiên trì thuyết phục lãnh đạo để được tham gia đợt hai cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mậu Thân.

Đồng chí hy sinh ngày 24/5/1968 tại vùng ven Sài Gòn trong một trận càn của quân Mỹ. Chiến sĩ - Nghệ sĩ Lê Anh Xuân đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Đồng chí đã xây dựng lên tượng đài “Dáng đứng Việt Nam” với vần thơ: Từ Dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất, Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

6. Người lính đầu tiên hy sinh trên tuyến đầu bảo vệ biên giới: Đó là liệt sĩ Lê Đình Chinh (1960 - 1978), quê xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; trú quán Nông trường Sông Âm, huyện Ngọc Lặc, cùng tỉnh; nhập ngũ ngày 16/2/1975 khi mới 15 tuổi. Sau khi được huấn luyện ở huyện Triệu Sơn, đồng chí được biên chế vào đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12 Bộ Tư lệnh Công an nhân dân (nay là Bộ đội biên phòng).

Đồng chí từng tham gia chiến đấu nhiều trận bảo vệ biên giới Tây Nam và bị thương. Sau điều trị, đồng chí trở về đơn vị và được điều động ra biên giới phía Bắc. Tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, ngày 25/8/1978, quân giặc vượt biên xâm lấn đất đai, hành hung cán bộ và nhân dân địa phương. Trong vòng vây của giặc, đồng chí tả xung hữu đột che chở, bảo vệ dân và hy sinh nơi địa đầu Tổ quốc. Ngày 30/8/1978, đồng chí đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Với đồng đội và nhiều thế hệ người Việt Nam, tên tuổi Lê Đình Chinh đã trở thành biểu tượng cho lòng quả cảm xả thân vì Tổ quốc...

Đúng như lời Bác muôn vàn kính yêu đã dạy, “Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh(4).

Những Thương binh đặc biệt

Tri ân hơn 80 vạn thương binh cả nước, nhưng xin điểm xuyết đôi nét về một số trường hợp thật đặc biệt theo tinh thần “nói một người để nhớ đến muôn người”:

1. Người thương binh mang sổ phụ cấp thương tật đầu tiên số 1 tt: Đó là đồng chí Hoàng Cầm, sinh năm 1922; quê xã Vĩnh Thượng, huyện Ứng Hòa, Hà Nội; đồng chí bị thương ngày 23/9/1947 khi đang chỉ huy chiến đấu tại mặt trận Đà Bắc (Hòa Bình). Đồng chí được xếp hạng 2 tạm thời (Giấy chứng nhận bị thương số 1 tt do Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh, bác sĩ Vũ Định Tụng ký ngày 16/8/1958), được cấp sổ thương tật số 1 tt ngày 1/4/1963 và được chuyển sang hạng 4/6 vĩnh viễn theo Quyết định số 642/TCDC ngày 7/10/1963 của Ủy ban hành chính tỉnh Thái Nguyên; số hồ sơ quản lý XT.1274.

2. Người thương binh đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng quân đội: Đó là đồng chí La Văn Cầu, sinh năm 1932, dân tộc Tày; quê xã Quang Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Trong trận đánh đồn Đông Khê lần thứ hai tháng 9/1950, khi cánh tay phải trúng đạn địch, bị gãy không mang nổi bộc phá, đồng chí đã yêu cầu đồng đội chặt đi cho khỏi vướng rồi ôm bộc phá lao tới lỗ châu mai của địch. Trận đánh đã toàn thắng. Đồng chí là thương binh hạng 2/6 với tỷ lệ mất sức lao động 71%, giấy chứng nhận thương binh số TQT-1340. Tại Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tháng 5/1952, đồng chí đã được Chủ tịch nước tuyên dương Anh hùng Quân đội (nay là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).

3. Người hưởng chính sách như thương binh đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng lượng vũ trang nhân dân: Đó là Trung tá Nguyễn Thị Chiên (1930 - 2016), quê xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Những năm 1946 - 1952, đồng chí đã tham gia xây dựng cơ sở kháng chiến ở 5 thôn; xây dựng và chỉ huy đội du kích xã Tán Thuật chống càn, phá tề, tiêu thổ kháng chiến. Trong các trận đánh địch, đồng chí đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu, bảo vệ đồng bào, phát triển sản xuất, tiêu diệt nhiều tên địch và bắt sống 15 tên, trong đó có 4 lính Tây... Tại Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, tháng 5/1952, đồng chí được Bác Hồ tặng khẩu súng ngắn của Người và được Chủ tịch nước tuyên dương anh hùng Quân đội (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân). Đồng chí được hưởng chính sách như thương binh, hạng 5/6 với tỷ lệ mất sức lao động 21%, số sổ 001-CBĐ.

4. Người thương binh trải qua 16 lần mổ, trở thành nhà khoa học: Đó là đồng chí Lý Hòa, sinh năm 1931, quê xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho; nhập ngũ tháng 4/1948. Trong một trận công đồn ngày 7/8/1953, đồng chí bị thương nặng. Tập kết ra Bắc, đồng chí phải mổ tới 16 lần để giải quyết những hậu quả của việc xử lý ban đầu chưa tốt do điều kiện khó khăn ở chiến trường và được xếp hạng thương tật 2/6, số sổ KT 2501. Xuất viện, đồng chí hăng say học tập thực hiện lời hứa trước khi ra Bắc, “Sẽ trở về với kiến thức văn hóa để xây dựng quê hương miền Nam”. Sau 8 năm học tập, từ trình độ lớp 3, đồng chí đã tốt nghiệp đại học, trở thành cán bộ giảng dạy Đại học Tổng Hợp Hà Nội, rồi nhận học vị Phó Tiến sĩ Vật lý tại Liên Xô. Đất nước thống nhất, đồng chí trở về Nam, đảm nhận chức danh Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh... Kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 52 (2/9/1997), đồng chí được tuyên dương Anh hùng lao động, do có nhiều thành tích xuất sắc trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

5. Người thương binh nặng được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang giữa thời bình: Đó là đồng chí Trần Đức Thái, sinh năm 1954, quê xã Định Hải, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí bị cụt tay trái, 3 ngón tay phải và nhiều vết thương khác, được xếp hạng thương tật 6/8, số sổ QĐ 4383T/NH. Trở về địa phương, đồng chí tiếp tục tham gia công tác (trong Đội bảo vệ Tổ máy phát điện...). Ngày 5/8/1985, trên đường đi làm, phát hiện người khả nghi đang tìm đường tẩu thoát, đồng chí đuổi bắt; tên cướp ào xuống đồng lúa, lẫn vào bà con đang làm ruộng. Được báo tên cướp có vũ khí nhưng đồng chí vẫn nhanh chóng tiếp cận. Biết không còn đường thoát, tên cướp rút lựu đạn hăm dọa, nhưng đồng chí đã áp sát quật ngã tên cướp và đạp chân dìm tay cầm lựu đạn đã rút chốt của nó xuống bùn. Lựu đạn nổ, đồng chí mất chân trái, gãy cánh tay còn lại. Tên cướp đã bị bắt. Hành động mưu trí, dũng cảm của đồng chí đã cứu được nhiều bà con thoát nạn... Với tinh thần sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tài sản của tập thể và tính mạng của nhân dân, đồng chí Trần Đức Thái (sau lần bị thương này đã được xếp hạng thương tật 1/4, mất sức lao động 81%), được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân...


(*) Bài viết theo tài liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (cũ) cùng các tài liệu khác đã được công bố, theo địa danh cũ - chính quyền địa phương 3 cấp.

(**) Báo ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN số 204, ngày 23/7/2026.

(1) Theo đúng bản chụp thư đánh máy của Bác.

(2) Theo Tùng Anh tổng hợp từ chttp://wwwww,lanhdao.net

(3) Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Bến Tre (cũ) ngày 19-1-2007.

(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 7, trang 427, NXB CTQG, Hà Nội 1996.

    Nhân dân anh hùng - đất nước anh hùng(*)
    • Mặc định