Nhà thơ lớn của một thời tao loạn

Anh Chi 07/10/2008 00:00

Nguyễn Phi Khanh tên thật là Nguyễn Ứng Long. Theo gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê thì ông sinh năm 1355. Tổ tiên của ông người xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhỡn, trấn Kinh Bắc. Có thể tổ phụ ông về cư ngụ ở Nhị Khê rồi mới sinh ông, chí ít ông đã gắn bó với Nhị Khê từ thời thơ ấu.

      Khi vừa trưởng thành, Nguyễn Phi Khanh đã lấy tên làng Nhị Khê làm tên hiệu của mình. Nhị Khê xưa thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Đến thời Minh Mạng (1820 – 1840) trấn được chia nhỏ ra để lập tỉnh, Nhị Khê thuộc Hà Nội. Về sau Nhị Khê mới thuộc Hà Đông, rồi là Hà Tây. Giờ đây Nhị Khê, Thường Tín thuộc thủ đô Hà Nội.
      Thời trai trẻ, Nguyễn Phi Khanh đã nổi tiếng tài cao, học rộng, nên được Tư đồ Trần Nguyên Đán mời về làm gia sư, kèm cặp con gái trong nhà. Học trò Nguyễn Phi Khanh là Trần Thị Thái, con gái quan Tư Đồ. Cả hai đang độ xuân xanh, nên quyến luyến nhau một cách tự nhiên. Thế rồi, Trần Thị Thái có mang, Nguyễn Phi Khanh quá sợ bèn bỏ trốn. Nhưng quan Tư đồ đã chủ động cho đi tìm Phi Khanh về và đồng ý cho con gái mình lấy chàng thư sinh bạch diện. Cảm kích trước thịnh tình của bố vợ, Nguyễn Phi Khanh càng ra sức học hành. Đến năm 1374, vừa 19 tuổi, ông đi thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sỹ). Nhưng khi đó, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông vẫn giữ quan điểm rằng, bọn ấy lấy vợ phú quý là kẻ dưới phạm người trên, bỏ không dùng. Chỉ một lời phán bỏ không dùng của Thượng hoàng mà Nguyễn Phi Khanh phải lui về Nhị Khê sống 27 năm trời, làm nhà nho nghèo, mở trường dạy học để nuôi thân và nuôi con. Và ông làm thơ.
      Loạn xong, vườn cũ nhà xưa
     Trẻ thơ sáu tuổi đã ưa sách rồi...
     Theo học giả Phan Huy Chú, trẻ thơ sáu tuổi đây chính là Nguyễn Trãi. Và ta cũng biết, từ khi lên sáu tuổi, Nguyễn Trãi đã về ở Nhị Khê. Cha, con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, còn bà Trần Thị Thái, dù khi ở Thăng Long, lúc ở Côn Sơn, nhưng theo phép xưa “thuyền theo lái, gái theo chồng”, hẳn nhiều tháng ngày về ở Nhị Khê. Sau Nguyễn Trãi, ông bà đã có thêm mấy con nữa là Nguyễn Phi Bảo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn Phi Hùng. Ở Nhị Khê 27 năm trời, Nguyễn Phi Khanh dồn hết tâm lực vào dạy học và sáng tác thơ ca. Cũng xin nói rõ là, mãi ngoài bốn mươi tuổi ông mới đổi tên Nguyễn Ứng Long thành Nguyễn Phi Khanh. Tập thơ Nhị Khê thi tập của ông gồm những bài viết từ những năm còn trẻ đến lúc cảnh già đã xồng xộc tới, ghi lại chân thực số phận ông, vất vả, long đong mấy chục năm trường: Vài gian nhà học khuất trong lau lách/ Cỏ ao, vườn rừng vào giấc mộng thơ/ Sương phủ mái nhà trĩu nặng... Và thơ Nguyễn Phi Khanh đã phản ánh trung thực, phản ánh rất mạnh bạo đời sống đầy biến động đương thời, dân tình khổ sở, liêu xiêu vì giặc Chiêm Thành cướp phá, vì loạn Dương Nhật Lễ, vì thiên tai, mất mùa... Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy/ Đồng quê than van biết cậy trông ai?... (bài Nỗi xúc động vì việc ở quê). Dưới những mái nhà chen chúc kia/ Khuôn mặt nào cũng cóng lạnh... (bài Đáp lại vần thơ xuân rét của Thái học sinh Đạo Khê). Còn trong bài Thơ làm vào tháng sáu năm Nhâm dần, những câu thơ như hơi thở buồn đau:
      Hè nắng hạn, thu mưa dầm
      Lúa khô mạ thối bội phần long đong
      Sách ba vạn quyển, khôn dùng...
      Hơn sáu trăm năm trước mà lối viết tả thực của bậc đại nho Nguyễn Phi Khanh mạnh mẽ và sâu sắc đáng kinh ngạc. Có thể nói, trong các nhà thơ thời Trần – Hồ, Nguyễn Phi Khanh là người có cái tôi trữ tình, nhiều day dứt nhất, có tư tưởng thẩm mỹ rất lớn. Trái tim ông nhiều khi đau đớn vì bất lực trước cuộc sống đầy tai ương: Sân trước quét sầu trông lá rụng/ Bên trời ứa lệ đến chim hồng... (bài Cảm xúc buổi sớm thu). Câu thơ xưa cổ mà hình ảnh, xúc cảm và lối biểu đạt nay ta vẫn thấy hay thấm thía. Thơ Nguyễn Phi Khanh vừa cao sang, vừa trần đời, là bút lực của bậc đại gia: Lưới quan tham vơ vét cùng kiệt/ Sinh mạng dân như dầu mỡ tiêu hao... Đương thời hiếm thấy một nhà thơ nặng lòng với việc của dân của nước như Nguyễn Phi Khanh. Có lúc, tưởng như ông đã muốn gác lại những chuyện đời, như bài Chơi Côn Sơn: Hứng hết muốn vào tăng viện ngủ/ Chuông chiều trước núi giục trăng treo... Nhưng, đâu có được, bởi tâm hồn ông đã đầy những chuyện đời: Vạn sự ngược đời đêm kéo mãi/ Chứa sầu trăn trở đếm tàn canh... Có lẽ, số phận riêng của ông hòa đồng với thân phận của đại đa số người dân của thời buổi đầy tao loạn nên mới có được thơ như vậy. Những năm tháng đó, vương triều Trần suy tàn. Quyền bính triều đình rơi vào tay Hồ Quý Ly, người đại diện cho một thế lực chính trị mới đang lên. Người đương thời có ý kỳ vọng ở Hồ Quý Ly. Đời đầy biến động, con đường số phận Nguyễn Phi Khanh cũng gặp những biến cố thật lớn, thật đau lòng. Bà Trần Thị Thái theo bố về ở Côn Sơn, mang theo mấy người con, càng trở nên cách biệt đối với ông. Rồi bà Thái qua đời. Rồi năm 1390, bố vợ ông là Trần Nguyên Đán cũng mất. Và rồi, nhà Hồ thay thế nhà Trần, ông đã đổi tên thành Phi Khanh nên được vua mới dùng làm học sỹ Viện Hàn lâm kiêm chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Khi đó, ông mới 46 tuổi. Một vài năm sau, ông được thăng Trung thư Thị lang. Đến 1407, cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ thất bại, Nguyễn Phi Khanh cùng một số người khác bị giặc bắt đưa sang Trung Quốc. Năm đó, ông 53 tuổi. Đây là cuộc chia ly đau đớn, chia lìa các con, bị đứt khỏi quê hương đất nước. Trong cuộc chia ly bi tráng này, Nguyễn Trãi có theo cha lên đến Mục Nam Quan thì Nguyễn Phi Khanh bắt con phải quay về tìm cách báo thù nhà, đền nợ nước. Việc Nguyễn Trãi sau này trở thành danh nhân văn hóa lớn, anh hùng giải phóng dân tộc, được người đời coi là một việc làm nối chí người cha. Còn Nguyễn Phi Khanh tiếp tục sống thêm hai mươi năm trời trên đất khách quê người. Và đương nhiên, một tâm hồn như tâm hồn Nguyễn Phi Khanh, chắc chắn lại đầy buồn đau. Ông cứ phải đi tiếp con đường số phận ông và chắc lại tiếp tục thể hiện nó qua thơ, văn, mà tiếc thay, người đời không có cơ hội được biết. Rồi ông qua đời tại Trung Quốc, thọ 73 tuổi.
      Tác phẩm của Nguyễn Phi Khanh, ngoài Nhị Khê thi tập, rất tiếc đã thất lạc mất, còn có Nguyễn Phi Khanh thi văn do Dương Bá Cung (1795 – 1868) là một học giả người làng Nhị Khê sưu tập được và có cả Bài ký động Thanh Hư viết năm 1384 là áng văn hay nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam. Lẽ đời vô cùng sâu xa, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Phi Khanh cũng như tài hoa sâu sắc và những xúc cảm đầy nhân tình thế thái của ông đã để lại một dấu ấn rất rõ nơi tư tưởng và tâm hồn thi hào Nguyễn Trãi, con ông. Bởi đối với những bậc hiền tài thực sự, đau khổ và gian nan chỉ làm chí khí lớn hơn, tâm hồn cao cả hơn:
      Nước càng tuôn đến bể càng cả
      Đất một chồng thêm núi một cao.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Nhà thơ lớn của một thời tao loạn
        • Mặc định