Đời sống

Người nghệ sĩ áo lính viết tiếp trường ca hữu nghị Việt - Lào bằng khát vọng tuổi trẻ

Tin, ảnh: Trọng Nghĩa 08/09/2026 16:35

Qua ca khúc “Tình anh em ngàn năm”, Đại úy Bùi Tuấn Ngọc – người nghệ sĩ mang quân hàm trưởng thành từ Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội không chỉ tôn vinh mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, mà còn khẳng định khát vọng của thế hệ trẻ hôm nay trong việc tiếp nối và vun đắp di sản thiêng liêng ấy.

Ca khúc ‘TÌNH ANH EM NGÀN NĂM’ (#ສາຍໃຈນິລັນດອນ) được thực hiện bằng tình yêu chân thành dành cho hai đất nước Việt Nam - Lào, với sự chung tay của những người Việt Nam yêu Lào và những người Lào yêu Việt Nam.

Tiếp nối di sản hữu nghị bằng tiếng nói của tuổi trẻ

Đối với những nghệ sĩ sáng tác, cảm xúc luôn là khởi nguồn của mọi tác phẩm. Khi được hỏi về động lực thôi thúc đồng chí chắp bút cho một ca khúc mang nặng ân tình Việt - Lào, Đại úy Bùi Tuấn Ngọc cho biết điều đó không đến từ những lý thuyết xa xôi, mà bắt rễ từ chính những trải nghiệm thực tế và truyền thống của đơn vị nơi anh công tác.

Đại úy QNCN Bùi Tuấn Ngọc - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội hữu nghị Việt Nam - Lào, Bí thư Đoàn cơ sở Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội.
Đại úy QNCN Bùi Tuấn Ngọc - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội hữu nghị Việt Nam - Lào, Bí thư Đoàn cơ sở Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội.

Trong thời gian cống hiến tại Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội, đồng chí nhiều lần có cơ hội đến Lào biểu diễn, giao lưu, phục vụ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nước bạn. Mỗi chuyến đi mở ra thêm những hiểu biết về văn hóa, con người, âm nhạc và đời sống xứ Triệu Voi, đồng thời bồi đắp trong người nghệ sĩ trẻ cảm nhận ngày càng sâu sắc về sự gần gũi giữa hai dân tộc.

“Nguồn cảm hứng lớn nhất đối với tôi có lẽ bắt đầu từ chính những trải nghiệm rất thật trong hành trình của một người nghệ sĩ - chiến sĩ”, Đại úy Bùi Tuấn Ngọc bộc bạch.

Thế nhưng, phía sau những trải nghiệm cá nhân ấy còn là một mạch nguồn được tiếp nối qua nhiều thế hệ nghệ sĩ - chiến sĩ của Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội. Trước khi có những kỷ niệm của riêng mình với Lào, anh đã được nghe các thế hệ đi trước kể về đất nước, con người, những chuyến công tác, sân khấu, cuộc gặp gỡ và tình cảm giữa cán bộ, chiến sĩ, nhân dân hai nước. Đến khi chính mình đặt chân tới Lào, những câu chuyện từng được nghe kể trở nên thực chất và gần gũi hơn.

Theo Đại úy Bùi Tuấn Ngọc, một trong những may mắn lớn nhất của anh là được trở thành nghệ sĩ - chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và trưởng thành tại Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội – nơi nhiều thế hệ nghệ sĩ đã gắn hoạt động nghệ thuật với nhiệm vụ chính trị, đối ngoại quốc phòng và những chương trình vun đắp tình đoàn kết Việt Nam - Lào.

Tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào mà thế hệ chúng tôi đang được thụ hưởng hôm nay là một tài sản vô giá, được các thế hệ lãnh đạo, quân và dân hai nước dày công gây dựng, vun đắp bằng biết bao công sức, tình cảm và sự hy sinh.

Từ những trải nghiệm ấy, anh càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị của mối quan hệ Việt Nam - Lào.

Nhận thức ấy càng được củng cố khi năm 2025, đồng chí Ngọc tham gia Ban Chấp hành Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào. Đây cũng là thời điểm tình cảm dành cho đất nước và con người Lào được nối dài bằng ý thức rõ hơn về trách nhiệm của thế hệ trẻ.

“Tình yêu đi cùng với nhận thức thì sẽ hình thành trách nhiệm. Tôi bắt đầu tự hỏi mình có thể làm được điều gì bằng chính chuyên môn và thế mạnh của mình”, Đại úy Ngọc chia sẻ.

Từ câu hỏi ấy, dự án Samakhi được anh ấp ủ như một hành trình âm nhạc dài hơi dành cho tình hữu nghị Việt Nam - Lào. Ý tưởng đã ở trong đồng chí Ngọc từ lâu nhưng đến thời điểm có đủ điều kiện mới được hiện thực hóa. Đáng chú ý, trên hành trình ấy, anh không đi một mình. Nhiều người trẻ Việt Nam yêu Lào và những người trẻ Lào yêu Việt Nam cùng gặp nhau ở mong muốn đóng góp cho mối quan hệ giữa hai dân tộc. Những tình cảm, ước mơ và lý tưởng ấy gặp nhau ở một giao điểm tình anh em nối dài ngàn năm.

“Đối với tôi đây không đơn thuần là một bài hát tôi viết về Việt Nam và Lào. Tôi muốn nó trở thành tiếng nói của những người trẻ hôm nay, những người đang được tiếp nhận một di sản vô cùng quý giá của cha anh và mong muốn kể tiếp câu chuyện ấy bằng ngôn ngữ của thế hệ mình”, đồng chí Ngọc chia sẻ.

Một cá khúc kết nối triệu trái tim Việt - Lào

Những nốt nhạc đầu tiên của “Tình anh em ngàn năm” xuất hiện trong chuyến công tác của Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội tại Lào năm 2024. Bên cạnh nhiệm vụ biểu diễn, đoàn có các hoạt động giao lưu với thanh niên và cộng đồng. Một khoảnh khắc khiến Đại úy Ngọc nhớ mãi là khi những người trẻ Việt Nam và Lào đứng thành một vòng tròn, nắm tay nhau, còn anh ôm cây đàn guitar cùng mọi người hát.

“Khi ấy gần như không còn khoảng cách về ngôn ngữ hay quốc tịch nữa. Chỉ có cảm giác mọi người rất gần nhau, rất thân tình, giống như anh em trong một gia đình”, đồng chí nhớ lại.

Đêm cuối trước khi trở về Việt Nam, sau khi vừa biểu diễn xong, trong đầu anh bất chợt vang lên hai câu hát: “Những ánh mắt như sao trên trời/ Long lanh chẳng thể nói nên lời…”. Đó là cảm xúc được tích lũy từ nhiều lần chia tay tại Lào, từ những cái ôm, ánh mắt, giọt nước mắt và lời hẹn ngày gặp lại.

Trở về Việt Nam, Đại úy Bùi Tuấn Ngọc cùng nhạc sĩ phối khí Nguyễn Hải Đức tiếp tục phát triển tác phẩm. Từ những nét nhạc đầu tiên năm 2024 đến khi hoàn thiện vào năm 2026 là một quá trình chỉnh sửa nhiều lần, từ cấu trúc, hòa âm, diễn biến cảm xúc đến những chi tiết nhỏ trong bản phối.

Một cơ duyên khác đưa anh đến với nghệ sĩ Lào Ola BlackEyes. Hai người gặp nhau trong chương trình “Việt Nam - Lào: Bản trường ca hữu nghị” tại Sân vận động Quốc gia Lào đầu năm 2026. Ấn tượng bởi sự trẻ trung, chân thành và nguồn năng lượng tích cực của Ola, Đại úy Ngọc từng mong muốn hai người sẽ có một sản phẩm chung. Khi Ola sang Việt Nam biểu diễn, ý tưởng ấy trở thành hiện thực và phần kết hợp trong “Tình anh em ngàn năm” dần được hoàn thiện.

Đằng sau ca khúc còn là sự góp sức của những người trẻ đang ngồi trên giảng đường. Thông qua LaoSao Fest - Ngày hội giao lưu văn hóa sinh viên Việt Nam - Lào, Đại úy Ngọc có cơ duyên gặp các sinh viên Học viện Ngoại giao. Ban đầu, các bạn mời anh tham gia chương trình và mong muốn anh sáng tác một ca khúc. Nhưng trước sự nhiệt huyết của những người trẻ dành cho quan hệ Việt Nam - Lào, đồng chí đặt ra một câu hỏi khác: “Tại sao chúng ta không biến tình cảm ấy thành một sản phẩm có đời sống lâu hơn?”.

Từ đó, Samakhi gặp LaoSao Fest và một ê-kíp trẻ được hình thành. Nhiều thành viên vẫn đang là sinh viên, học về đối ngoại, truyền thông, quan hệ quốc tế nhưng trực tiếp tham gia nội dung, sản xuất, điều phối, kết nối, sáng tạo hình ảnh và truyền thông.

“Tôi thực sự nhìn thấy ở các bạn sức mạnh của tuổi trẻ. Đó không chỉ là kiến thức được học trong nhà trường mà là khả năng biến kiến thức ấy thành những hành động cụ thể, những sản phẩm cụ thể để kết nối con người với con người”, Đại úy Ngọc chia sẻ.

Cùng với ê-kíp trẻ Việt Nam, những người bạn Lào hỗ trợ kết nối, phiên dịch, trao đổi văn hóa và sản xuất. Các cơ sở có lưu học sinh Lào cũng đồng hành tích cực. Sau cùng, 61 lưu học sinh, sinh viên Việt Nam - Lào từ 10 cơ sở, đơn vị cùng xuất hiện trong MV.

“Một bài hát được bắt đầu từ cảm xúc của một người, nhưng khi hoàn thành lại trở thành sản phẩm của rất nhiều trái tim”, Đại úy Ngọc nói.

Sản phẩm không phải "phép cộng cơ học" giữa hai nền văn hóa

Để một ca khúc cùng lúc mang hơi thở Việt Nam - Lào, ê-kíp lựa chọn cách tiếp cận bắt đầu từ sự tôn trọng và lắng nghe. Đại úy Bùi Tuấn Ngọc cho rằng người sáng tạo không thể chỉ lấy một vài yếu tố đặc trưng rồi ghép lại để đại diện cho cả một nền văn hóa. Điều quan trọng là phải nghiên cứu ngôn ngữ, cách phát âm, hình ảnh, trang phục, cảm xúc và cách thể hiện sao cho tự nhiên.

Trong quá trình thực hiện, ê-kíp thường xuyên trao đổi với những người bạn Lào. Về âm nhạc, Đại úy Ngọc cũng không muốn “Tình anh em ngàn năm” trở thành phép cộng cơ học giữa chất liệu Việt Nam và Lào. Điều anh tìm kiếm là điểm giao thoa, nơi những yếu tố gợi nhắc bản sắc được đặt trong cấu trúc âm nhạc đương đại, với tiết tấu, cách phối khí và hình thức thể hiện gần hơn với thói quen thưởng thức của người trẻ.

“Ngôn ngữ cũng vậy. Việc tiếng Việt và tiếng Lào cùng xuất hiện trong tác phẩm không nhằm tạo cảm giác phô diễn mà để mỗi người khi nghe đều có thể tìm thấy một phần gần gũi của mình trong đó”, đồng chí chia sẻ.
“Ngôn ngữ cũng vậy. Việc tiếng Việt và tiếng Lào cùng xuất hiện trong tác phẩm không nhằm tạo cảm giác phô diễn mà để mỗi người khi nghe đều có thể tìm thấy một phần gần gũi của mình trong đó”, đồng chí chia sẻ.
Người nghệ sĩ áo lính viết tiếp trường ca hữu nghị Việt - Lào bằng khát vọng tuổi trẻ

Theo Đại úy Ngọc, hội nhập không đồng nghĩa với việc làm nhạt bản sắc. “Ngược lại, càng hội nhập thì càng phải hiểu mình bắt đầu từ đâu”. Bởi vậy, sáng tạo phải đi cùng nghiên cứu, trách nhiệm và gốc rễ, để những giá trị truyền thống có thể sống trong đời sống đương đại thay vì trở nên xa lạ với thế hệ trẻ.

Tên gọi “Tình anh em ngàn năm” cũng mang trong đó một chiều sâu vượt khỏi phạm vi của một tác phẩm âm nhạc. “Anh em” là cách gọi gần gũi, bởi quan hệ Việt Nam - Lào từ lâu được nhắc đến không chỉ như quan hệ đồng chí mà còn là tình anh em. Còn “ngàn năm” không phải con số dùng để đo đếm lịch sử, mà là một ước nguyện về sự trường tồn.

Đại úy Ngọc nhắc đến những lời thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt - Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”, cùng lời khẳng định của Chủ tịch Kaysone Phomvihane: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”. Với thế hệ hôm nay, đó không chỉ là những câu nói được nhắc lại trong các dịp kỷ niệm mà còn là lời nhắc về trách nhiệm.

Hình ảnh cảm động khi bộ đội tình nguyện Việt Nam chia tay các bạn Lào trước lúc trở về nước, năm 1961. (Ảnh tư liệu: Quân đội nhân dân)
Hình ảnh cảm động khi bộ đội tình nguyện Việt Nam chia tay các bạn Lào trước lúc trở về nước, năm 1961. (Ảnh tư liệu: Quân đội nhân dân)

Thế hệ trẻ hôm nay không trực tiếp sống qua chiến tranh, không trực tiếp trải qua những mất mát, hy sinh của cha anh. Vì vậy, trách nhiệm của chúng tôi là học lịch sử, biết ơn thế hệ đi trước và biến sự biết ơn ấy thành những hành động phù hợp với thời đại.

Đó có thể là một chương trình giao lưu, một công trình nghiên cứu, một dự án cộng đồng, một chuyến tình nguyện, một sản phẩm truyền thông hay đơn giản là một bài hát. “Tôi luôn nghĩ muốn một tình cảm tồn tại thật lâu thì mỗi thế hệ phải làm phần việc của thế hệ mình.” Khi mỗi thế hệ đóng góp một phần nhỏ, “ngàn năm” sẽ không chỉ là lời ước nguyện trong một ca khúc mà trở thành một hành trình được tiếp nối bằng hành động.

Văn hóa là mạch nguồn kết nối thế hệ trẻ

Với Đại úy Ngọc, âm nhạc có khả năng vượt qua giới hạn của ngôn ngữ để tìm đến cảm xúc chung của con người. “Tôi luôn tin âm nhạc là một trong những con đường ngắn nhất đi từ trái tim đến trái tim,” đồng chí chia sẻ. Từ một giai điệu, những người chưa từng quen biết có thể cùng xúc động; từ sự đồng cảm ấy có thể hình thành những cuộc gặp gỡ, tình bạn và hành động cụ thể.

Thế hệ trẻ hôm nay sinh ra và lớn lên trong hòa bình, được tiếp cận tri thức, khoa học, công nghệ và có nhiều cơ hội sáng tạo. Theo Đại úy Ngọc, lòng biết ơn đối với quá khứ vì thế không nên chỉ dừng ở cảm xúc. Người trẻ cần tự hỏi mình có thể đóng góp gì bằng chính năng lực của mình.

Với những người làm nghệ thuật, câu trả lời là sáng tạo.
Với những người làm nghệ thuật, câu trả lời là sáng tạo.

Đồng chí Ngọc nhắc tới Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, đồng thời nhấn mạnh sức mạnh mềm của văn hóa. Ngày 4/9/2026, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng thông qua Nghị quyết về “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” giai đoạn 2027 - 2036 do Việt Nam đề xuất và thúc đẩy cùng các nước trong nhóm nòng cốt.

Những dấu mốc ấy càng củng cố niềm tin của người nghệ sĩ trẻ rằng văn hóa không chỉ thuộc về đời sống tinh thần mà còn có khả năng kết nối con người, tạo dựng sự thấu hiểu, đóng góp vào phát triển và quan hệ giữa các quốc gia.

“Tôi vẫn hình dung văn hóa giống như một mạch nguồn chảy trong mỗi con người”, đồng chí Ngọc chia sẻ. Điều quan trọng là làm thế nào để mạch nguồn ấy tiếp tục sống trong đời sống hiện đại, để bản sắc dân tộc không bị phai mờ và những giá trị cha ông để lại vẫn có thể chạm đến thế hệ hôm nay. “Muốn vậy thì phải sáng tạo. Nhưng đó phải là sự sáng tạo có nghiên cứu, có bài bản, có trách nhiệm và có gốc rễ. Chỉ khi hiểu mình đến từ đâu, chúng ta mới có thể tự tin đưa văn hóa của mình đi xa.”

Ngày 26/8/2026, trong khuôn khổ Hội nghị Ban Thường vụ Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào mở rộng, MV ca nhạc “Tình anh em ngàn năm” thuộc dự án SAMAKHI đã được giới thiệu, trình chiếu tại Hội nghị.
Ngày 26/8/2026, trong khuôn khổ Hội nghị Ban Thường vụ Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào mở rộng, MV ca nhạc “Tình anh em ngàn năm” thuộc dự án SAMAKHI đã được giới thiệu, trình chiếu tại Hội nghị.
Sản phẩm đã nhận được sự quan tâm, động viên và ủng hộ của các đại biểu tham dự trước thềm công bố với khán giả trong và ngoài nước.
Sản phẩm đã nhận được sự quan tâm, động viên và ủng hộ của các đại biểu tham dự trước thềm công bố với khán giả trong và ngoài nước.

Dự án được thực hiện trong hành trình hướng tới năm 2027 - thời điểm kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào và 50 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào. Với Đại úy Ngọc, điều đáng kỳ vọng không chỉ là một ca khúc được nghe mà là những điều có thể bắt đầu từ ca khúc ấy.

Đồng chí mong từ một bài hát, một bạn trẻ có thể tò mò hơn về lịch sử; từ một MV, một người có thể muốn tìm hiểu về đất nước, con người ở phía bên kia dãy Trường Sơn; từ một giai điệu, có thể xuất hiện thêm một cuộc gặp gỡ hay tình bạn mới giữa những người trẻ hai nước. “Nếu ‘Tình anh em ngàn năm’ làm được một phần nhỏ như vậy thì đối với tôi đã là một điều rất đáng quý,” đồng chí chia sẻ.

Với Đại úy Bùi Tuấn Ngọc, “Tình anh em ngàn năm” vì thế không phải điểm kết thúc. Đồng chí mong Samakhi trở thành một hành trình lâu dài với nhiều sáng tác, cuộc gặp gỡ và hoạt động văn hóa hơn nữa; tạo không gian để người trẻ Việt Nam và Lào gặp nhau, làm việc cùng nhau, sáng tạo cùng nhau và lưu giữ những ký ức của chính thế hệ mình.

    Người nghệ sĩ áo lính viết tiếp trường ca hữu nghị Việt - Lào bằng khát vọng tuổi trẻ
    • Mặc định