Ngón chân cụt (Phần cuối)
Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Trung
![]() |
| Minh họa của Vũ Xuân Hoàn |
Mối tình của anh chàng câu lươn với cô Ngự cũng được người ca tụng, kẻ nhạo báng, vì nó vượt qua quan niệm thời đó của làng. Vào một buổi sáng, khi Mân đang dò dẫm bên hố bom, hai chiếc phản lực từ phía đông nhào tới, trút hai loạt bom, tiếng nổ tưởng nứt trời, khói đen quyện bùn vấy lên vòm trời xanh tái. Mân bị mảnh bom găm vào cánh tay. Giữa lúc ấy một người con gái từ triền núi gần đó nhào ra cứu anh. Đó là cô Ngự. Cô dìu anh về nhà chăm sóc, công khai yêu anh. Ngự đang học lớp mười, thời bấy giờ cả huyện chỉ có một trường cấp ba, mỗi xã có chừng năm, bảy người được học, con gái lên được cấp ba là hướng đến giảng đường đại học, mèng cũng là trung cấp sư phạm để dạy cấp hai, nghĩa là lấy được chồng cán bộ thoát ly, vậy mà cô đem lòng yêu anh chàng Mân? Một cô gái xinh đẹp, có học vấn vào loại nhất làng yêu anh chàng đọc chưa thông, viết chưa thạo? Khó tin nhưng là sự thực. Cha cô, một dân cày tính như lửa, khuyên nhủ con gái không được, đành trói cô vào gốc cây cau nện cho một trận thừa sống thiếu chết. Tưởng đâu cô con gái nước chè xanh sẽ tỉnh ngộ, nhưng đâu ngờ, cô bỏ học, theo thằng câu lươn ngón chân cụt ấy trốn vào giữa bãi sậy ven sông. Hai người dựng mái chòi giữa bãi sậy mênh mông, hàng ngày Mân lén về nhà lấy cơm đưa vào. Đôi trai gái sống như vậy suốt cả mấy tuần. Vậy là ông bố đành ngậm bồ hòn cho con gái lấy thằng câu lươn, nó đã ở với nhau như vậy, còn gì để giữ nữa. Nghĩ vậy nhưng ông vẫn lo cho tương lai của đứa con gái cưng.
Bất chấp người làng đàm tiếu, cuộc tình trái với thuần phong mỹ tục làng xã, hàng ngày hai người thường sánh vai đi trên đường thôn như trêu ngươi, thách thức với mọi người. Khi anh mò mẫm giữa ruộng kéo lươn ra khỏi hang, chị cắt cỏ trên đồng hay đốn củi bên triền núi, nhưng mắt vẫn dõi theo dáng người thấp đậm, bận áo nâu sờn, mùa đông khoác áo tơi. Có người cho rằng cô đã ngộ nhận, cũng là một dạng ảo tưởng về thằng câu lươn có ngón chân cụt, quanh năm đi chân đất ấy. Ảo tưởng vốn là căn bệnh dễ lây nhất. Chiến tranh ngày càng khốc liệt, trên không trung phản lực Mỹ gầm thét, phóng rốc két, dội bom khắp nơi, những đám khói đen trộn đất bụi nhồi lên như núi, khói phả đặc cánh đồng khét đến nhức mũi, đâu cũng thấy đầu người quấn khăn tang. Dân làng vào các hẻm núi tận đại ngàn tránh cái chết, chỉ còn lại đôi trai gái ấy hiên ngang dưới bom đạn.
* * *
Suốt đời, anh Mân chỉ làm nghề câu lươn, mê thả diều sáo. Thời trước vào hợp tác xã ruộng đất chung, đi làm chấm công, tính điểm đến mùa lấy lúa, đã khá lâu rồi ruộng đất được chia cho từng gia đình, vợ chăm mấy sào ruộng, khi vợ làm ở đâu, anh cho cánh diều bay trên bầu trời chỗ đó. Không nói ra, nhưng cô Ngự vẫn ngầm tự hào về chồng mình, anh ấy chẳng phải đẹp trai, nhưng tâm hồn còn hơn chán vạn kẻ làm ông này ông nọ nhưng đánh vợ như cơm bữa.
Lươn không chỉ là thực phẩm mà còn là vị thuốc người dân xứ này rất chuộng. Tôi nhớ, trong một buổi chăn bò, thấy thần tượng đang ngồi nghỉ dưới gốc đa giữa đồng, đám mục đồng chúng tôi xúm lại, anh mở mo cơm ra ăn. Cơm được nhồi nhuyễn, vo nén chặt, ăn với cà pháo muối gió ướp đã thâm sịt, anh nhai rôm rốp, đến độ đám trẻ chúng tôi đâm thèm, hôm sau đứa nào cũng mang một gói cơm và mấy quả cà muối đi ăn. Tôi cứ ngó chằm vào cái ngón chân cụt của anh. Ngón chân huyền thoại! Trong buổi trưa nắng chang đồng, dưới bóng mát tán đa già lủa tủa những chùm rễ từ cành buông xuống đất, không hiểu cao hứng thế nào, anh cho chúng tôi hay về các loại lươn. Đó là lươn đá, sống ở các khe núi mình đen chắc, huyết của nó trộn nước ngải cứu sắc lên cho trẻ sài đẹn uống là hết bệnh; lươn sắt, mình lẳn, nấu sả chữa bệnh hen suyễn; lươn mỡ sống ở bờ ruộng sâu, thân dài, béo căng, mổ thịt thấy mỡ nhiều, nấu cháo chữa bệnh những đôi vợ chồng hiếm muộn, đàn ông cường sức, đàn bà mắn đẻ. Nghe anh nói, chúng tôi tưởng đang nghe một lương y giỏi giảng giải. Mân đâu phải là gã khờ như nhiều người lầm tưởng. Anh ta giả bộ ngây ngô để che mắt thế gian, để khỏi phải làm những việc xã hội, để yên tâm sống với nghề câu lươn? Tính láu cá được ngụy trang bởi dáng vẻ đần độn chăng? Thực ra, lươn được nhiều người chuộng, vào buổi non trưa và cuối chiều, rất đông người làng đón Mân từ đồng về để mua. Mân chẳng bao giờ ra giá, trả bao nhiêu cũng được, thông thường, bà con cứ căn theo thời giá ở chợ mà trả cho anh, ai chưa có tiền, để tới mùa trả bằng thóc, bằng khoai cũng được. Có phải vậy mà bà con quý thương anh Mân câu lươn. Trước khi chia tay đám trẻ mục đồng, Mân nổi hứng đọc cho chúng tôi nghe mấy đoạn trong Thánh ca rồi giảng nghĩa. Lúc ấy, khuôn mặt hàng ngày hơi tối chợt sáng bừng lên, đôi mắt nâu lóng lánh, tôi ngỡ như mình đang đứng trước nhà truyền giáo chứ phải đâu anh chàng Mân hàng ngày vạch cỏ tìm hang lươn. Cái giọng Kẻ E như dội ra từng tiếng, có sức hút bầy trẻ thơ ngây chúng tôi lắm. Sau đó, tôi mới hay, từ nhỏ Mân đã có trí nhớ hơn người, cậu chỉ nghe người khác đọc mấy lần là thuộc. Mân giống như nhiều người dân làng tôi dù không biết chữ vẫn thuộc lòng truyện Kiều, truyện Hoa Tiên vậy.
* * *
Chiều hôm sau, tôi được ông Mân dẫn đi xem đồng. Chỉ còn dăm ngày nữa là đến Nguyên đán, đồng làng khá nhộn nhịp, mọi người đang gấp rút làm công việc cuối cùng của năm, đàn ông cày bừa, đàn bà cắm những giẻ mạ liếp nốt phần ruộng còn lại.
Đồng làng đã khác trước nhiều, bờ vùng, bờ thửa phần nhiều đã bê tông hóa, cứ như một nơi thí nghiệm trồng lúa. Những đám cỏ xanh ngời lên vậy mà sao không cho trâu bò ăn? Nghe tôi hỏi, ông Mân bảo tất cả đồng đã nhiễm thuốc trừ sâu nên chẳng ai dám thả trâu bò ra đây. Trâu bò nhốt ở chuồng, cho ăn bằng cỏ sữa trồng trong vườn, và các thức ăn chế biến sẵn, tựa như nuôi gia cầm vậy.
Miền trung du này xung quanh đồng là núi đồi, những khúc sông, khe suối xa thời xưa đã thành những hồ, những hói, những đập chứa nước, dẫu mùa hạ gió Lào róng riết mấy tháng trời vẫn không thiếu nước, nguồn cá đồng rất nhiều. Ngày trước, khi bờ ruộng bằng đất, bùn mỡ tràn lên chân, cỏ năn lác xanh um, là thế giới của loài lươn. Ông tiếp:
- Đó là thời trước, khi chú đang chăn trâu, cắt cỏ, dân ta trồng giống lúa truyền thống, phải sáu tháng mới thu hoạch. Bây giờ khác xa rồi, người ta đưa giống lúa mới vào, hai tháng rưỡi đã cho thóc, năng suất cao gấp mấy lần. Nhưng phải sử dụng phân hóa học, như con người ta món ăn là phải có mì chính, bột ngọt, dẫu biết độc vẫn không bỏ được, rồi thuốc trừ sâu thả xuống vô tội vạ, ruộng coi sạch vậy nhưng rất lắm thứ sâu bệnh hại lúa. Chẳng có lươn cá nào sống nổi nữa. Thằng câu lươn như tôi khốn đốn lắm.
Cuối chiều đông, trời rây xuống màn mưa, gió lạnh tái da, dáng ông Mân bước đi liêu xiêu. Vâng, xã hội đã thay đổi rất lớn, xóm làng, đồng ruộng không còn như xưa, chỉ riêng người câu lươn này vẫn thế, tôi có cảm giác ông già cũ kỹ như cái cần câu lươn ấy.
Chợt ông ngó tôi chằm chằm:
- Không đất hành nghề, tôi buồn muốn chết. Có lẽ mình không nên sống lâu làm gì.
Đôi mắt nâu già chợt dại đi. Hẳn nỗi buồn khiến ông buột ra câu nói ấy, chứ người như ông đã trải những tháng năm đói khổ, bom đạn, có một đức tin nữa, không dễ bị nỗi buồn hạ gục đâu.
Chúng tôi đi trên bờ ruộng cỏ chỉ vừa tràn phủ lớp bùn non đã săn lại. Ông ngước nhìn trời, nói:
- Chú biết không, tôi sống được là nhờ thú chơi diều, khi chưa tới mùa gió Lào thì phấp phỏng chờ đợi, khi cánh diều căng lên vòm trời, mình cũng như bay theo tiếng sáo nó, đó là thú vui không bao giờ biết chán. Mình còn hơn chán vạn người giàu có nhưng không biết đến thú vui hưởng lộc từ nguồn gió trời, phải không?
Ông thả bước đi như gieo lốt chân xuống đất ướt. Phải, đôi bàn chân suốt đời đi đất, to bè, ngón cái cụt, vết thương lâu ngày đen như gắn chì, làm nên một huyền thoại, như là chuyện cổ tích cho xóm cho làng, đã đóng dấu lên không biết cơ man nào là dấu trên những bờ ruộng khắp vùng quê. Tưởng như bao nhiêu sự kiện diễn ra, bao nhiêu lớp người đã đi qua làng, chỉ còn đọng lại dấu chân có ngón chân cụt của người câu lươn này.


