Nghệ thuật “đánh điểm, diệt viện”
Sau thất bại tại Mặt trận Biên giới (1950), thực dân Pháp vừa ra sức đối phó với các chiến dịch tiến công của quân ta; đồng thời tiếp tục phát triển thêm ngụy binh, thực hiện các cuộc hành quân càn quét mở rộng vùng tạm chiếm, cố gắng giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Thực hiện kế hoạch đề ra, giữa tháng 11.1951, quân Pháp huy động 20 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở cuộc hành quân lớn đánh chiếm Hòa Bình nhằm ngăn chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa căn cứ địa Việt Bắc với Liên khu 3, 4; tạo điều kiện thuận lợi xây dựng “xứ Mường tự trị” phục vụ mục đích thống trị lâu dài. Sau khi hành quân chiếm đóng, lần đầu tiên, địch tổ chức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm, bao gồm 28 cứ điểm lớn, nhỏ trên địa bàn từ Xuân Mai đến thị xã Hòa Bình (khoảng 50km) và từ Trung Hà đến Thị xã Hòa Bình (khoảng 60km), tập trung thành 2 phân khu: Phân khu sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam). Hệ thống cứ điểm và phân khu được bố trí liên hoàn, khi bị ta tiến công, địch có thể cơ động theo đường thủy (sông Đà), đường bộ (Đường 6, 87 và 89) ứng cứu cho nhau, ngoài ra còn sử dụng không quân trực tiếp chi viện.
Trước âm mưu, hành động của địch, Trung ương Đảng họp bàn, quyết định mở chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan kế hoạch của quân Pháp, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312 và 304), Đại đoàn công binh - pháo binh 351 cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Bộ Chính trị cử làm Tư lệnh, phụ trách Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Trình độ tác chiến của bộ đội ta đã được nâng lên một bước, nhưng chưa đồng đều. Kinh nghiệm hiệp đồng binh chủng đánh công kiên quy mô lớn còn nhiều hạn chế.
Căn cứ vào tình hình lực lượng, hình thái bố trí của địch và khả năng tác chiến của bộ đội ta, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định lựa chọn phương pháp tác chiến “đánh điểm, diệt viện”. Theo đó, ta tập trung tiến công vào một số mục tiêu quan trọng để tiêu diệt hoặc uy hiếp nhằm “khêu ngòi”, buộc địch phải điều quân ứng cứu, giải tỏa. Lợi dụng điểm yếu của lực lượng cơ động ứng cứu giải tỏa bộc lộ ngoài công sự, trên địa hình không có sự chuẩn bị trước để ta thực hiện các trận tiến công tiêu diệt.
Sau thời gian tích cực chuẩn bị, ngày 10.12.1951, chiến dịch Hòa Bình chính thức bắt đầu.
Đợt 1 (10 - 26.12.1951): Thực hiện kế hoạch tác chiến đã đề ra, ta tập trung đột phá tuyến Sông Đà. Ngay trong đêm mùng 10, rạng sáng ngày 11 tháng 12, ta sử dụng Trung đoàn 88, Sư đoàn 308, tăng cường một tiểu đoàn, 8 khẩu sơn pháo 75mm, một đại đội phòng không 12,7mm tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ - một vị trí quan trọng nằm giữa phòng tuyến tả ngạn sông Đà, buộc địch phải liên tiếp điều lực lượng ứng cứu, giải tỏa. Trên sông Đà, lực lượng địch từ Trung Hà lên bị Tiểu đoàn 84, Trung đoàn 36 phục kích ở Đoan Hạ đánh thiệt hại nặng phải rút chạy. Lực lượng khác từ thị xã Hòa Bình 2 lần xuống giải tỏa cũng bị Tiểu đoàn 6, Trung đoàn l41 và một tiểu đoàn ta chặn ở Lạc Song tiến công tiêu diệt. Tuyến cơ động của địch trên sông Đà bị cắt đứt. Trên Đường số 6, ta cũng tổ chức nhiều trận phục kích ở Cầu Mè, Giang Mỗ, Cầu Cụt. Kết thúc Đợt 1 ta đã tiêu diệt trên 10 đại đội chủ lực tinh nhuệ của địch (phần lớn là lính Âu Phi). Phối hợp với mặt trận Hòa Bình, ở vùng địch hậu, các đơn vị chủ lực của ta tiến sâu vào vùng sau lưng địch cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động giành được thắng lợi, nhất là ở Bắc Ninh, Ninh Bình, buộc địch phải đối phó tại chỗ.
Đợt 2 (27 - 31.12.1951): Bộ Chỉ huy chiến dịch tiếp tục thực hiện phương châm “đánh điểm, diệt viện”, nhưng có sự vận dụng hết sức linh hoạt: tổ chức đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, phá giao thông, chặn tiếp tế của địch; đồng thời chuẩn bị khi có điều kiện sẽ đánh điểm lớn, diệt viện lớn. Ngay trong đêm 29 tháng 12, ta tiến công các điểm cao 600, 165, 400 (Ba Vì), buộc địch phải điều các binh đoàn cơ động số 1 và số 3 cùng 1 tiểu đoàn dù phản kích. Các lực lượng phản kích của địch bị đánh thiệt hại phải lui về củng cố, ta đập tan tuyến phòng thủ Sông Đà.
Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952): Qua 2 đợt đầu, quân Pháp bị tổn thất nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng ngày càng gặp khó khăn, đường giao thông tiếp tế sông Đà bị tê liệt, Đường số 6 bị uy hiếp mạnh... Bộ Chỉ huy chiến dịch ta quyết định: Chuyển phần lớn lực lượng chủ lực xuống cắt đứt Đường số 6, tiếp tục bao vây chặt Thị xã Hòa Bình. Trong khi địch chưa rút khỏi Hòa Bình, ta tổ chức đánh mạnh, vận dụng “đánh điểm, diệt viện” để tiêu diệt thêm sinh lực địch, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị lực lượng đánh địch rút chạy. Ta tổ chức tiến công vào các cứ điểm Pheo, Đầm Huống và trận địa pháo binh địch ở Hòa Bình. Mục tiêu chủ yếu (Hòa Bình) bị uy hiếp, địch liên tiếp tổ chức phản kích giải tỏa nhưng bị ta đánh thiệt hại nặng. Chỉ trong vòng 30 ngày, ta đánh 10 trận diệt hơn 10 đại đội lính Âu Phi, buộc địch phải quyết định rút bỏ khỏi Hòa Bình. Nắm chắc thời cơ, ta tổ chức các trận phục kích đánh tiêu hao, tiêu diệt nhiều đơn vị địch rút chạy trên Đường 6, kết thúc thắng lợi chiến dịch.
Nhờ vận dụng linh hoạt, đúng đắn phương châm tác chiến, chiến dịch Hòa Bình đã giành thắng lợi to lớn. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 khẩu pháo, hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà, đập tan mọi cố gắng giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của quân Pháp. Thắng lợi này góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến cục Đông Xuân 1951 - 1952, tạo đà thuận lợi cho bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

