Ngân sách và môi trường - yếu tố cơ bản để bảo đảm sự phát triển bền vững

Trần Văn
Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính và Ngân sách
16/07/2011 07:34

Đoàn công tác của Ủy ban Tài chính và Ngân sách của QH do Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Phùng Quốc Hiển dẫn đầu đến đất nước Bắc Âu xinh đẹp, mến khách vào đúng giữa mùa hè để trao đổi kinh nghiệm về quyết định, giám sát ngân sách nhà nước với QH và một số cơ quan của Chính phủ Thụy Điển.

Ngân sách bền vững với trần chi tiêu

Thụy Điển được tổ chức theo mô hình chế độ quân chủ lập hiến, với QH gồm 349 nghị sỹ được bầu theo nhiệm kỳ 4 năm. QH có vai trò quyết định trong việc thảo luận, quyết định, giám sát dự toán và thực hiện ngân sách nhà nước. 

Theo nghị sỹ G. Pettersson và S. Anger từ Ủy ban Tài chính của QH Thụy Điển thì cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm 1990 đã đem lại những bài học lớn. Trong giai đoạn này, chi tiêu của Chính phủ tăng từ 31% GDP năm 1960 lên tới 70% GDP vào năm 1993 đã dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế sâu vào những năm 1993 - 1995 với mức thâm hụt ngân sách 11,9% GDP (năm 1993).

Rút kinh nghiệm của giai đoạn này, để quản lý và xây dựng ngân sách bảo đảm thành công, Thụy Điển đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản. Đó là mức trần chi tiêu ngân sách gắn với xây dựng kế hoạch trung hạn bằng cách tiếp cận tích hợp tất cả các khía cạnh của ngân sách với cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, sát thực tế và dự báo đáng tin cậy.

Mức trần chi tiêu, hay còn được gọi là đường cơ bản là giới hạn chi tiêu ngân sách bắt buộc. Trần chi tiêu ngân sách được quyết định từ 4 năm trước khi năm ngân sách hiện hành bắt đầu. Ví dụ, năm 2011 quyết định trần ngân sách cho đến năm 2014 và mức trần chi tiêu ngân sách được giữ nguyên trong suốt 4 năm đó. Trong khuôn khổ kế hoạch tài chính trung hạn, mức trần chi tiêu ngân sách là công cụ để kiểm soát việc chi tiêu của Chính phủ, là điều kiện để xây dựng ngân sách theo phương pháp từ trên xuống.

Trên thực tế, chi tiêu ngân sách cũng có sự biến động khá lớn giữa mức chi thực tế và dự toán, do vậy, ngân sách có thể điều chỉnh nhưng không được vượt quá trần chi tiêu ngân sách. Nằm giữa trần chi tiêu và dự toán chi NSNN là vùng đệm, đóng vai trò nguồn lực tài chính dự phòng để bảo đảm thực hiện các chính sách mới, khả năng ứng phó với các khó khăn có thể xảy ra trong năm tài khóa mà vẫn bảo đảm không vượt qua giới hạn trần chi tiêu.

Trần chi tiêuvùng đệm là hai quy định mà các chuyên gia K.Bergstrand và R.Oloffson của Bộ Tài chính Thụy Điển giành nhiều thời gian trao đổi với chúng tôi và cũng là hai khái niệm mà chúng tôi thích nhất. 

Dự toán ngân sách được tổng hợp từ trên 500 điều mục chi theo 27 nội dung chi. Chính phủ được phép chuyển nguồn 3% tổng chi ngân sách hàng năm và có thể tạm ứng khoảng 3-5% ngân sách năm sau và được hoàn tạm ứng vào ngân sách năm sau, do vậy đã tạo sự chủ động cho Chính phủ trong điều hành ngân sách mà không cần phải báo cáo QH để bổ sung chi tiêu ngân sách khi cần thiết.

Khi đi thực tế ở các thành phố Kramfort, Solletea, và vùng Vasternorrland, chúng tôi thấy chỉ số trần chi tiêu được tính toán từ những dự báo về kinh tế vĩ mô, khả năng huy động ngân sách dưới tác động của các chính sách của Chính phủ ban hành trong năm tài khóa như: chính sách về lương, phúc lợi xã hội, y tế, phụ cấp cho người già và trẻ em...

Đến làm việc với Đoàn tại điểm du lịch nổi tiếng Hoga Kusten, ông B.Kallstrand, Thống đốc vùng Vasternorrland, cho chúng tôi biết, Thụy Điển là nước có truyền thống về minh bạch ngân sách. Từ giữa Thế kỷ XVIII đã có quy định người dân được tự do tiếp cận thông tin về tài chính công, tạo ra cơ chế giám sát công khai, minh bạch trong việc sử dụng ngân sách. Ví dụ, thông qua trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức Nhà nước, người dân có thể xem các chứng từ thanh toán chi phí cho bất kỳ một công chức nào đi công tác nước ngoài. Minh bạch tài chính công đã làm cho việc sử dụng ngân sách một cách hiệu quả nhất, tránh được lãng phí, tham nhũng, tạo lập lòng tin của người dân, góp phần nâng cao ý thức tự giác trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người dân Thụy Điển.

Thụy Điển là nước giàu nhưng chi tiêu ngân sách hết sức căn cơ, chặt chẽ đáng để chúng ta học tập. Mô hình ngân sách của Thụy Điển đã gợi ý cho chúng tôi hướng nghiên cứu cải cách tài chính công; xây dựng chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030; xây dựng kế hoạch tài khóa trung và dài hạn; sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài chính - tiền tệ với chính sách tài khóa. Từ đó, thực hiện giảm dần bội chi ngân sách về trung hạn trong bối cảnh của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2015.

Nghiên cứu việc bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước theo hướng dự toán NSNN trình QH phải dựa trên chính sách và kế hoạch tài khóa trung và dài hạn. Có thể đặt vấn đề Chính phủ trình Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm kèm theo dự báo kế hoạch tài khóa 5 và 10 năm. Chính phủ trình QH dự toán NSNN năm kế hoạch để QH thẩm tra, phê duyệt kèm dự toán ngân sách 2 năm kế tiếp với sự cho phép điều chỉnh linh hoạt khi QH thảo luận ngân sách vào năm sau.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để có một quy trình ngân sách chặt chẽ hơn, với hệ thống bảng biểu phù hợp, đầy đủ và chi tiết các khoản chi ngân sách, định mức phân bổ ngân sách bảo đảm yêu cầu dễ hiểu, công khai, minh bạch phương pháp tính toán phân bổ ngân sách.

Môi trường bền vững với năng lượng tái tạo

Những kinh nghiệm của Thụy Điển trong lĩnh vực tài chính công rất đáng để chúng ta học tập. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ xanh, sạch, thân thiện với môi trường ở đây đã để lại cho Đoàn những ấn tượng sâu sắc.

Trong các cuộc gặp gỡ với Thống đốc vùng Vasternorrland và lãnh đạo một số địa phương miền Trung Thụy Điển, ngoài việc trao đổi về ngân sách Nhà nước của địa phương, bạn đã giới thiệu với Đoàn về hoạt động bảo vệ môi trường.

Hiện nay, Thụy Điển có khoảng 5 nghìn công ty chuyên sản xuất công nghệ sạch với giá trị sản lượng đạt 115 tỷ kronor, trong đó xuất khẩu 33 tỷ kronor (số liệu năm 2007). Thụy Điển dẫn đầu thế giới trong một số lĩnh vực nghiên cứu công nghệ thân thiện với môi trường như: xử lý rác thải, nước thải, lọc không khí, sản xuất năng lượng tái tạo, và tối ưu hóa năng lượng.
Thụy Điển hiện đi đầu trong việc phát triển các giải pháp hệ thống như: ứng dụng giải pháp chu kỳ sinh thái bền vững trong tái sử dụng nước, rác thải trong xây dựng nhà ở. Hiện nay ở Thụy Điển, các ngôi nhà thân thiện với môi trường được xây dựng với hệ thống xử lý rác thải và nước thải ngay trong tòa nhà và sau khi xử lý có thể dùng để tưới cây hoặc làm phân bón, hoặc rác thải từ các khu nhà ở được đưa thẳng đến các nhà máy cung cấp nhiệt của từng quận bằng hệ thống ống hơi đẩy. Đi đầu về sử dụng công nghệ xanh trong hầu hết các lĩnh vực, Thủ đô Stockholm đã được chọn là Thủ đô Xanh của châu Âu năm 2010.

Với tốc độ sử dụng năng lượng như hiện nay, một năm loài người sử dụng một lượng dầu mỏ tương đương với tích lũy của thiên nhiên trong một triệu năm, thì nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt là điều hiển nhiên. Do đó, bên cạnh việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì việc phát triển năng lượng tái tạo là tất yếu. Một nghiên cứu đã đưa ra dự báo tỷ trọng sản lượng điện từ năng lượng tái tạo sẽ tăng từ 9% lên 13% trong tổng sản lượng điện toàn cầu.

Ngày nay, giá thành năng lượng tái tạo rẻ đi nhiều so với những năm 1970. Do đó, Thụy Điển đã chú ý phát triển tất cả các dạng năng lượng tái tạo, trong đó tập trung vào các nguồn thủy điện nhỏ, năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh khối.

Tham gia vào các nỗ lực của thế giới nhằm cắt giảm 50% lượng khí thải hiệu ứng nhà kính toàn cầu vào năm 2050 so với năm 1990, nước ta đã và đang khuyến khích sử dụng công nghệ xanh, sạch, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng; đồng thời có những chính sách hỗ trợ cụ thể để phát triển năng lượng tái tạo mà Việt Nam được đánh giá là có nhiều tiềm năng. Theo Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia tới 2020, tầm nhìn tới 2050 đã được Chính phủ phê duyệt thì tỷ lệ năng lượng tái tạo trên tổng năng lượng thương mại sơ cấp của Việt Nam sẽ đạt tương ứng 5% và 11% vào các năm 2020 và 2050.

 Chính phủ ta đã có những quy định về ưu đãi, hỗ trợ các hoạt động bảo vệ môi trường, các dự án về phát triển năng lượng tái tạo sẽ được ưu đãi, hỗ trợ về đầu tư xây dựng, đất đai, vốn, thuế, phí, trợ giá và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Chính phủ cũng đã ban hành danh mục ngành, lĩnh vực được hướng chính sách ưu đãi khi vay lại nguồn vốn ODA gồm các dự án thu gom chất thải rắn đô thị và chất thải rắn công nghiệp, xử lý nước thải công nghiệp, xây dựng nhà máy phát điện sử dụng nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo có tác dụng bảo vệ môi trường.

Tới đây khi các quy định về khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo được Chính phủ ban hành, các hình thức hỗ trợ sẽ được cụ thể hóa tùy thuộc vào loại hình công nghệ tái tạo, quy mô, địa bàn đầu tư, trong đó có cả hỗ trợ về giá cho người bán và người mua điện và đặc biệt là hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ năng lượng tái tạo. Đến khi đó, những khó khăn tạm thời hiện nay về thỏa thuận giá mua, bán điện từ các turbin phát điện từ các phụ phẩm của nông nghiệp như: sử dụng bã mía sau đường, trấu sau xay xát gạo, hay từ các nhà máy điện gió điện mặt trời... sẽ được giải quyết, sớm đưa nước ta vươn lên vị trí dẫn đầu trong phát triển năng lượng tái tạo của khu vực.

Ngân sách và môi trường chính là những yếu tố cơ bản nhất để bảo đảm phát triển bền vững không chỉ đối với Thụy Điển mà đối với bất kỳ quốc gia nào, kể cả chúng ta.

Rời Thụy Điển, chúng tôi nhớ mãi về sự hỗ trợ tích cực của Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Điển đối với hoạt động của Đoàn, nhớ những người bạn Thụy Điển có mối tình sâu nặng với Việt Nam mà chúng tôi được gặp như: cô Ulrika phụ trách đối ngoại vùng Vasternorrland, hay Phu nhân Đại sứ đầu tiên của Thụy Điển ở Việt Nam (năm 1969) khi đất nước còn chiến tranh, họa sỹ Anders Aberg với mong muốn được xây một căn nhà truyền thống Việt Nam tại khu bảo tàng ngoài trời ở Mannaminne để giới thiệu với bạn bè quốc tế...

Tình hữu nghị trong sáng đó được kiểm nghiệm trong hơn 42 năm qua sẽ mãi mãi bền vững cùng năm tháng.

QH Thụy Điển quyết định ngân sách theo hai giai đoạn. Bước một, QH phê duyệt dự toán ngân sách cho năm T+3 có cụ thể hóa cho 27 lĩnh vực chi cho năm T+1. Bước hai là phê duyệt phân bổ ngân sách trong từng lĩnh vực chi cho năm T+1 và chuẩn bị ngân sách cho các năm tiếp theo.

Ngân sách Thụy Điển bao gồm cả dự toán ngân sách và các chính sách tài chính đi kèm. Dự toán ngân sách tài chính trung hạn 4 năm thể hiện chi tiết các chính sách về kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính, dự kiến thu chi ngân sách nhằm đạt mục tiêu thặng dư ngân sách bình quân năm là 1% GDP và bảo đảm trần chi tiêu ngân sách cùng với hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách.

Thụy Điển xây dựng dự toán ngân sách trung hạn theo phương pháp từ trên xuống. Chính phủ đề xuất một mức trần chi phí cho năm T+3 với tổng hạn mức không thay đổi. Chính phủ gửi sơ bộ chi phí cho các đơn vị thụ huởng ngân sách để chi cho năm T+2 và T+3; đồng thời tính toán thu ngân sách cho tất cả các năm. Chính phủ đề xuất phân bổ dự toán năm T+1 theo các nội dung chi; đồng thời trình bày chi tiết các mục tiêu và kết quả dự kiến cho các chương trình. Các chính sách mới được trình bày chi tiết kèm theo nguyên tắc, mục tiêu và báo cáo đánh giá tác động đối với nền kinh tế. Trên cơ sở đó, QH sẽ thảo luận và quyết định.

    Ngân sách và môi trường - yếu tố cơ bản để bảo đảm sự phát triển bền vững
    • Mặc định