Nâng cao năng lực phản ứng chính sách, thúc đẩy cải cách thể chế
Sáng 23/10, tiếp tục Kỳ họp thứ Hai, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội đã nghe Báo cáo đánh giá tình hình và Báo cáo thẩm tra việc thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.


Tạo cơ sở pháp lý linh hoạt để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc
Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày nêu rõ, qua hơn 1 năm thực hiện, cơ chế ủy quyền lập pháp đặc biệt theo Nghị quyết số 206 đã phát huy hiệu quả tích cực, tạo cơ sở pháp lý linh hoạt để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn về thể chế; nâng cao năng lực phản ứng chính sách, thúc đẩy cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và giải phóng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Các bộ, cơ quan ngang bộ đã tổ chức rà soát, xác định khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, phân loại để xử lý theo thẩm quyền, theo trình tự sửa đổi văn bản thông thường của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206. Theo đó, có tổng số 786 phản ánh, kiến nghị có khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật. Đến nay, đã xử lý xong 556 phản ánh, kiến nghị; đang tiếp tục xử lý 230 phản ánh, kiến nghị.

Chính phủ cũng đã xây dựng, ban hành 26 nghị quyết để kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc gây kìm hãm, ách tắc, cản trở phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, 5 nghị quyết được ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong năm 2026 đã mang lại những kết quả tích cực, giúp tiết kiệm 53% về thời gian, 55% về chi phí tuân thủ, tương đương khoảng 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm cho người dân và doanh nghiệp.
Để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, 26 nghị quyết nêu trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung 317 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 77 luật, 1 nghị quyết của Quốc hội, 1 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 148 nghị định, 4 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 83 thông tư, 02 thông tư liên tịch và 1 quyết định của Bộ trưởng.

Trong thời gian tới, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt công tác rà soát, xử lý các khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; tập trung ưu tiên nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác pháp chế, tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ rà soát, theo dõi, xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.

Đồng thời, Chính phủ kiến nghị Quốc hội xem xét đưa vào Nghị quyết của kỳ họp nội dung đánh giá khái quát kết quả thi hành Nghị quyết số 206 và cho phép kéo dài thời gian có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206 (tối đa đến ngày 31/12/2027) nhằm tạo cơ chế chuyển tiếp, giúp các cơ quan có thêm thời gian hoàn thành việc sửa đổi các văn bản có liên quan, bảo đảm tính liên tục và không tạo khoảng trống pháp lý.
Bổ sung, làm rõ kết quả xử lý các phản ánh, kiến nghị
Trình bày Báo cáo thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu nêu rõ, Ủy ban đề nghị bổ sung, làm rõ kết quả xử lý các phản ánh, kiến nghị gắn với từng phương án theo quy định tại Nghị quyết số 206. Đối với các phản ánh, kiến nghị đang được tiếp tục xử lý, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ tập trung rà soát, xác định rõ phương án, lộ trình và trách nhiệm xử lý đối với từng phản ánh, kiến nghị; ưu tiên giải quyết dứt điểm các vướng mắc tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư, kinh doanh, vận hành bộ máy mới, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Về kết quả xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai các nghị quyết của Chính phủ theo quy định tại Nghị quyết số 206, Chủ nhiệm Ủy ban Phan Chí Hiếu nêu rõ, Chính phủ đã ban hành 26 nghị quyết để xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, việc ban hành văn bản để xử lý nhanh các khó khăn, vướng mắc thông qua việc áp dụng cơ chế đặc biệt tại Nghị quyết số 206 đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo đảm tính khả thi, đánh giá đầy đủ tác động và điều kiện tổ chức thực hiện, dẫn đến có trường hợp văn bản sau khi ban hành phải tạm ngưng hiệu lực.

Về sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để xử lý các văn bản được điều chỉnh bởi các nghị quyết của Chính phủ ban hành theo cơ chế của Nghị quyết số 206, Phụ lục 03 của Báo cáo cho thấy, so với văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, còn nhiều văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chưa được sửa đổi, bổ sung.
Ủy ban đề nghị Chính phủ chỉ đạo rà soát, phân loại, xác định rõ thời hạn, mức độ chậm so với tiến độ và nguyên nhân; tính cấp thiết, thứ tự ưu tiên, cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành, nhất là đối với các văn bản cần ban hành hoặc có hiệu lực đồng thời với luật.

Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành với kiến nghị Quốc hội cho phép bổ sung nội dung đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 206 và việc kéo dài thời hạn có hiệu lực của các văn bản đã được ban hành theo cơ chế của Nghị quyết này tối đa đến ngày 31/12/2027 vào Nghị quyết kỳ họp của Quốc hội; tuy nhiên, cần chỉnh lý lại nội dung dự kiến quy định để thể hiện rõ yêu cầu hoàn thành sửa đổi, bổ sung luật, pháp lệnh bảo đảm có hiệu lực chậm nhất là ngày 1/1/2028 cho chính xác.

