Nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn lực của nhà nước
Thảo luận tại Tổ 4 (gồm Đoàn ĐBQH TP. Đồng Nai; Quảng Trị và Điện Biên), các ĐBQH tán thành cao về sự cần thiết ban hành Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn lực của nhà nước. Bên cạnh đó, các đại biểu đề nghị, tăng cường sự gắn kết giữa đầu tư công với ngân sách nhà nước; phân bổ và điều chỉnh nguồn lực cần gắn với tiến độ thực hiện, trách nhiệm giải trình và kết quả đầu ra.

Gắn chuyển nguồn cuối năm với đánh giá hiệu quả và cam kết giải ngân
Góp ý tại phiên thảo luận, ĐBQH Lê Nữ Thuỳ Dương (TP. Đồng Nai) tán thành việc với việc xây dựng dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) nhằm thể chế hoá kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tài chính công, đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn lực của nhà nước.
“Việc hợp nhất Luật Đầu tư công với Luật Ngân sách nhà nước là bước đi đúng đắn, tăng cường tính thống nhất đồng bộ trong quản lý nguồn lực, tài chính nhà nước” - đại biểu khẳng định.

Đại biểu ghi nhận dự thảo đã giảm bớt các trường hợp được chuyển nguồn so với Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công hiện hành. Để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đại biểu đề nghị bổ sung các nội dung: quy định tỷ lệ tối đa số vốn được chuyển nguồn so với dự toán được giao. Đại biểu cũng đề nghị, quy định thống nhất điều kiện, thẩm quyền, thời hạn sử dụng các khoản chuyển nguồn, làm rõ phương án xử lý kinh phí đã chuyển nguồn nhưng hết hạn vẫn chưa giải ngân để nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng ngân sách.
Quy định hệ quả khi không thực hiện quy định giải ngân và lấy kết quả thực hiện cam kết làm căn cứ giao kế hoạch vốn năm sau. Việc đề nghị chuyển nguồn phải kèm giải trình lý do, báo cáo đánh giá hiệu quả.
ĐBQH Lê Nữ Thuỳ Dương (TP. Đồng Nai)
Đại biểu đánh giá cao việc dự thảo đã đưa yêu cầu đánh giá hiệu quả đầu tư vào nguyên tắc quản lý ngân sách và quy định các loại hình đánh giá, gồm đánh giá ban đầu, giữa kỳ hoặc giai đoạn, kết thúc, đánh giá tác động và đánh giá đột xuất. “Đây là nội dung mới, quan trọng, thể chế hoá Kết luận số 18-KL/TW của Bộ Chính trị, cách tiếp cận thay đổi từ việc chủ yếu xem xét tiến độ giải ngân sang gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội, kỷ luật tài khoá, chất lượng công trình và kết quả đầu ra”, đại biểu nhận định.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị nên đánh giá hiệu quả đầu tư gắn với hiệu quả kinh tế, xã hội, xác định vốn đầu tư công tạo ra bao nhiêu giá trị cho tăng trưởng, tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc thù ngành, lĩnh vực, địa bàn cụ thể. Đối với các dự án phúc lợi xã hội thì xem xét toàn diện lợi ích cho cộng đồng; đối với lĩnh vực, địa bàn chưa thu hút được tư nhân tham gia, thì không đặt hiệu quả lợi nhuận lên hàng đầu mà cần quan tâm đến việc hiệu quả kinh tế - xã hội tại khu vực mà dự án đầu tư đem lại. Ngoài ra, cần nghiên cứu thêm các tiêu chí về tối ưu chi phí sử dụng vốn, thời gian hoàn thành dự án. Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí chung tiêu chí để bảo đảm thống nhất. Trên cơ sở đó, các Bộ, ngành, địa phương ban hành tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn phụ trách.
Theo đại biểu, nhiều khoản thu tài chính về đất đai mới được tạo lập trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Tuy nhiên, dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) mới ghi nhận tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tiền thu từ khai thác quỹ đất khu vực phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Các khoản thu mới như: khoản thu lũy tiến đối với dự án chậm đưa đất vào sử dụng, điều tiết giá trị tăng thêm từ quy hoạch hiện chưa được ghi nhận cụ thể vào danh mục các khoản thu ngân sách nhà nước.
Trên cơ sở đó, đại biểu Lê Nữ Thuỳ Dương đề nghị rà soát và bổ sung đầy đủ các nguồn thu nêu trên vào danh mục các khoản thu ngân sách nhà nước, bảo đảm liên thông, đồng bộ giữa Luật Đất đai và Luật Ngân sách nhà nước.
Tăng cường sự gắn kết giữa đầu tư công với ngân sách nhà nước
Góp ý đối với dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), ĐBQH Trịnh Xuân An nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiện đại hóa mô hình quản lý ngân sách, tăng cường sự gắn kết giữa đầu tư công với ngân sách nhà nước.

Đối với các chương trình mục tiêu quốc gia, đại biểu đề nghị khắc phục tình trạng quy định và bố trí nguồn lực phân tán tại nhiều điều khoản, gây khó khăn trong kiểm soát tổng mức đầu tư, danh mục dự án, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ đầu tư dàn trải, chồng chéo.
Để nâng cao hiệu quả nguồn vốn, đại biểu cũng đề nghịviệc phân bổ và điều chỉnh nguồn lực cần gắn với tiến độ thực hiện, trách nhiệm giải trình và kết quả đầu ra, qua đó đánh giá cụ thể hiệu quả thực tế mà chương trình mang lại cho người dân. Đồng thời, cần thể chế hóa rõ hơn yêu cầu đánh giá hiệu quả đầu ra đối với toàn bộ các khoản chi ngân sách, bao gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, nhằm tăng cường kỷ luật, minh bạch trong quản lý tài chính công.
Bổ sung lĩnh vực văn hóa trong giao, phân bổ chi tiết dự toán ngân sách
Để góp phần hoàn thiện dự thảo Luật, ĐBQH Vừ A Bằng (Điện Biên) đề nghị bổ sung lĩnh vực văn hóa trong giao, phân bổ chi tiết dự toán ngân sách (Điều 26, Điều 31, Điều 32). Theo đó, đại biểu đề nghị giao, phân bổ chi tiết dự toán ngân sách theo lĩnh vực tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 26, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung lĩnh vực “văn hóa” bên cạnh các lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Dự thảo đã quy định riêng việc chi tiết khi giao và phân bổ dự toán đối với một số lĩnh vực trọng yếu, thể hiện sự ưu tiên của Đảng, Nhà nước trong bố trí nguồn lực. Cụ thể, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị xác định chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó chi đầu tư đạt ít nhất 5% và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3%; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tăng dần theo yêu cầu phát triển.

Theo đại biểu, đối với lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị xác định rõ quan điểm “Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc”, đồng thời yêu cầu “Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hoá; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn”. Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội cũng quy định “Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ”.
Do đó, để bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương, chính sách với cơ chế quản lý, phân bổ ngân sách, đại biểu đề nghị bổ sung “văn hóa” vào các lĩnh vực được chi tiết khi giao, phân bổ dự toán tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 26, tương ứng với cách thức quy định đối với giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
"Việc này nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc bố trí, phân bổ và theo dõi nguồn lực ngân sách dành cho phát triển văn hóa, bảo đảm thực hiện mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm theo Nghị quyết của Quốc hội", đại biểu Vừ A Bằng nêu rõ...

