Việt Nam và thế giới

Muốn ngoại giao mạnh, nội lực phải đủ mạnh

Hồng Nhung 01/08/2026 19:39

“Cơ hội từ bên ngoài chỉ trở thành nguồn lực khi bên trong sẵn sàng”; “đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia”... Những thông điệp được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 không chỉ định hướng cho toàn ngành đối ngoại, mà còn phản ánh một tư duy mới đang được nhiều học giả quốc tế phân tích: sức mạnh của ngoại giao trong giai đoạn tới sẽ được quyết định trước hết bởi năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia.

Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tích cực hội nhập quốc tế, qua đó không ngừng nâng cao vị thế quốc gia và đóng góp thiết thực cho hòa bình, ổn định và phát triển chung. Ảnh: VGP
Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tích cực hội nhập quốc tế, qua đó không ngừng nâng cao vị thế quốc gia và đóng góp thiết thực cho hòa bình, ổn định và phát triển chung. Ảnh: VGP

Sáng nay, 1/8, tại Hà Nội, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong và thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới” đã chính thức khai mạc theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tới các địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài.

20260801-hnng33-5(1).jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung và các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Ngoại giao bước sang trạng thái mới

Chúng ta không thể ngồi chờ thuận lợi đến, cũng không thể chỉ xử lý khi tình huống đã xảy ra. Tình hình càng phức tạp càng phải bình tĩnh, chủ động, tuyệt đối không co lại; tự tin nhưng không chủ quan, mạnh dạn nhưng không phiêu lưu, mềm dẻo mà giữ vững nguyên tắc. Mở rộng hợp tác đồng thời củng cố tự chủ chiến lược, nội lực và khả năng chống chịu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu toàn ngành đối ngoại tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, xác định ngoại giao phục vụ phát triển là trung tâm, đồng thời chuyển hóa các mối quan hệ đối ngoại thành nguồn lực cụ thể phục vụ phát triển đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh rằng “cơ hội từ bên ngoài chỉ trở thành nguồn lực khi bên trong sẵn sàng”, coi đây là nguyên tắc xuyên suốt của công tác đối ngoại trong giai đoạn mới.

Thông điệp này cho thấy đối ngoại Việt Nam đang chuyển từ mục tiêu chủ yếu là mở rộng quan hệ và nâng cao vị thế sang giai đoạn kiến tạo nguồn lực cho phát triển, trong đó sức mạnh nội tại trở thành yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động đối ngoại.

20260801-hnng33-31(1).jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Đây cũng là xu hướng được nhiều học giả quốc tế nhận định khi phân tích chính sách đối ngoại của Việt Nam sau Đại hội XIV. Theo nhà nghiên cứu Nicholas Chapman thuộc Đại học Tohoku (Nhật Bản), Việt Nam đang chuyển từ cách tiếp cận dựa chủ yếu vào hội nhập quốc tế, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ sang một giai đoạn nhấn mạnh hơn tới tự chủ chiến lược - khả năng duy trì quyền tự quyết trong một môi trường cạnh tranh nước lớn ngày càng phức tạp.

Theo học giả Nhật Bản, hội nhập quốc tế vẫn là nền tảng, nhưng mục tiêu hiện nay không chỉ là mở rộng mạng lưới đối tác mà còn phải xây dựng năng lực nội sinh đủ mạnh để Việt Nam có nhiều lựa chọn hơn trong quan hệ quốc tế.

Hiểu đúng “tự chủ chiến lược”

Theo ông Nicholas Chapman, khái niệm “tự chủ chiến lược” thường dễ bị hiểu nhầm là xu hướng giảm phụ thuộc vào bên ngoài hoặc hướng tới tự cung tự cấp. Tuy nhiên, điều Việt Nam theo đuổi hoàn toàn khác.

Ông Nicholas Chapman là nhà nghiên cứu chuyên về chính sách đối ngoại, kinh tế chính trị và lịch sử Việt Nam, hiện đang công tác tại Đại học Tohoku, Nhật Bản. Ảnh: East Asia Forum
Ông Nicholas Chapman là nhà nghiên cứu chuyên về chính sách đối ngoại, kinh tế chính trị và lịch sử Việt Nam, hiện đang công tác tại Đại học Tohoku, Nhật Bản. Ảnh: East Asia Forum

Đó là xây dựng đủ năng lực để có thể “hội nhập quốc tế nhưng không lệ thuộc, hợp tác nhưng không thỏa hiệp, đối tác nhưng không quên lợi ích quốc gia”, đúng như tinh thần mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh trong các phát biểu về đường lối đối ngoại của Đại hội XIV.

Nói cách khác, tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với việc giảm hợp tác quốc tế, mà là nâng cao khả năng chủ động, giảm thiểu rủi ro từ các cú sốc địa chính trị và tăng khả năng thích ứng trước những biến động của kinh tế thế giới.

Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục điều chỉnh, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.

Xây dựng “nội lực” cho ngoại giao

Kết quả đối ngoại không chỉ tính bằng số chuyến thăm, cuộc họp hay văn bản ký kết. Phải xem môi trường hòa bình có được củng cố; lợi ích quốc gia có được bảo vệ; quan hệ với đối tác có sâu, bền vững; cam kết nào đã hoàn thành; điểm nghẽn nào được tháo gỡ; nguồn lực nào được đưa về; người dân, doanh nghiệp có được phục vụ tốt hơn. Không tuyệt đối hóa con số, nhưng không đánh giá chung chung.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Nhà nghiên cứu Nhật Bản nhận ra ba trụ cột mà Việt Nam đang từng bước xây dựng: “Việt Nam đã đặt nền móng để thúc đẩy tự chủ chiến lược trong ba lĩnh vực then chốt: an ninh năng lượng, tài chính cho phát triển hạ tầng trong nước và xây dựng các doanh nghiệp tư nhân nội địa có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Việc tăng cường tự chủ trong các lĩnh vực này có thể tạo ra một vòng tròn hỗ trợ lẫn nhau, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn với các đối tác bên ngoài bằng tâm thế tự tin và linh hoạt hơn”.

Với an ninh năng lượng, Việt Nam đang đặt mục tiêu nâng công suất điện quốc gia lên khoảng 150 GW vào năm 2030 và tiếp tục mở rộng trong những thập niên tiếp theo. Đồng thời, Việt Nam cũng thúc đẩy hợp tác năng lượng với Malaysia và Singapore, hướng tới xuất khẩu điện tái tạo trong khu vực.

1784441651131_7546251636765780285_7546251636765780285_37b6b77427fc4203122ce64eeb0a762f_watermarked.jpg
Gói thầu XL01 thuộc dự án mở rộng cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành đã đạt gần 62% giá trị hợp đồng. Ảnh: Minh Anh

Với khả năng tự huy động nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, theo phân tích của ông Chapman, việc nhiều dự án lớn như Cảng hàng không quốc tế Long Thành hay các đoạn tuyến cao tốc Bắc - Nam được triển khai chủ yếu bằng nguồn lực trong nước cho thấy Việt Nam ngày càng có nhiều lựa chọn hơn về tài chính, từ đó giảm phụ thuộc vào vốn bên ngoài. Điều này không có nghĩa từ chối vốn quốc tế, mà là có đủ năng lực để lựa chọn hình thức hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia.

Với vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, ông Chapman đánh giá Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân là một bước ngoặt quan trọng khi Việt Nam đặt mục tiêu hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn vào năm 2030. Theo ông, kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy những tập đoàn như Samsung, Hyundai hay LG không chỉ là doanh nghiệp, mà còn là một phần sức mạnh chiến lược của quốc gia. Việt Nam hiện cũng có nhiều tập đoàn lớn như Vingroup, Hòa Phát hay Masan. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là giúp các doanh nghiệp này chuyển từ lợi thế trong nước sang năng lực cạnh tranh bền vững trên thị trường toàn cầu.

20260801-hnng33-37(1).jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Đó cũng chính là quá trình xây dựng “nội lực” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33: đưa ngoại giao phục vụ phát triển đi vào chiều sâu, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo. Mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045 đặt ra yêu cầu rất cao. Đối ngoại phải phục vụ trực tiếp đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế. Ngoại giao kinh tế phải theo sát dự án đến khi có kết quả.

Mở rộng “cái chiêng” để tạo tiếng vang lớn hơn

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ví “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”, thể hiện quan điểm của Người về mối tương quan chặt chẽ giữa hiệu quả của công tác ngoại giao với thế và lực của đất nước. Dẫn lại hình ảnh này, ông Nicholas Chapman cho rằng lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay.

Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia, tham gia sâu rộng vào các cơ chế đa phương, có mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng lớn và trở thành điểm đến quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh: Hồng Nhung
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia, tham gia sâu rộng vào các cơ chế đa phương, có mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng lớn và trở thành điểm đến quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh: Hồng Nhung

Trong một thế giới cạnh tranh ngày càng gay gắt, tiếng nói của một quốc gia không chỉ được tạo nên bởi mạng lưới quan hệ đối ngoại hay kỹ năng đàm phán, mà còn được quyết định bởi quy mô nền kinh tế, năng lực đổi mới sáng tạo, sức mạnh doanh nghiệp và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.

Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong các phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Đối ngoại phải phát huy vai trò tiên phong nhưng đồng thời phải kiến tạo nguồn lực phát triển; phải biến quan hệ quốc tế thành lợi ích cụ thể cho đất nước và người dân.

Trong giai đoạn phát triển mới, khi Việt Nam hướng tới các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2045, việc tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế sẽ vẫn là yêu cầu quan trọng. Tuy nhiên, “mở rộng cái chiêng” - tức không ngừng nâng cao sức mạnh nội sinh của nền kinh tế - mới là điều kiện để tiếng nói đối ngoại của Việt Nam ngày càng có trọng lượng, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu xây dựng một nền ngoại giao độc lập, tự chủ, hiện đại và phục vụ phát triển trong kỷ nguyên mới.

    Muốn ngoại giao mạnh, nội lực phải đủ mạnh
    • Mặc định