Một ngày ai câu
Tản văn của Trịnh Sơn
Ông già càu nhàu:
- Mấy con cá trốn đi đâu hết rồi không biết! Thả câu nãy giờ mà chẳng nghe động phao gì cả!
Đã mòn sáu mươi năm cuộc đời với con người, ông già vẫn còn chút gì đó nôn nóng rất hồn nhiên với ao đời.
Cậu thanh niên cười tinh nghịch:
- Bác phải làm một tấm biển nho nhỏ treo chung với mồi để dụ lũ cá đến.
- Dụ làm sao?
- Hi hi hi. Bác cứ ghi là: Cấm ăn!
Ông già ngước mặt ngẫm nghĩ rồi phá lên cười. Gió tháng Chạp luồn qua những sợi hoa râm da diết. Một cảm giác không mấy gì có được.
- Ha ha ha. Đúng vậy. Cấm ăn, cá sẽ tìm đến ăn. Con người ta cũng vậy, chỗ nào cấm đậu xe thì thích đậu, chỗ nào cấm đổ rác thì cứ phóng uế bừa bãi…
|
|
Một già một trẻ lạ chìm vào lắc lư những cánh phao.
Và, những cánh chuồn.
Thỉnh thoảng, tiếng cá đớp bèo sột soạt trong veo.
Thỉnh thoảng, cuộc ầm ào náo nhiệt phố thị vẳng đến. Quá khứ bơi chập chờn dưới nước. Có thật đấy, lại ảo ảnh đấy. Trong tầm tay nhưng không tài nào với bắt được.
Ông già ấy là một nhà thơ. Cả cuộc đời văn chương của ông, có lẽ, đã thả câu vào rất nhiều ao trong ao đục lòng người.
Cậu thanh niên ấy là tôi. Thảnh thơi bơi chầm chậm.
Nhớ hồi học phổ thông, khi làm tập làm văn đề bài “Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả”, tôi còn là đứa học trò mười bảy tuổi ưa ngủ gật trong lớp. Lúc phát bài kiểm tra, cô giáo dạy văn (sau này tôi mới biết cô là một nhà văn rất nổi tiếng) hình như đã xúc động lắm:
- TS đâu rồi?
Tôi hờ hững đứng dậy. Chắc lại bị mắng vì lạc đề đây mà. Bạn bè trong lớp cũng hờ hững, mọi người đã quá quen với kiểu làm văn không đầu không cuối của tôi rồi. Tiếng cô giáo run run:
- Một con cá kiếm đáng giá, các em à! Bài văn của trò này có điểm cao nhất lớp. Không thể cao hơn nữa.
Úp mặt ngủ quên trong giờ học bao nhiêu lần nhưng cũng chưa bao giờ tôi mơ tới điều đó. Cô cười:
- Bơi xa, thật xa ngoài đại dương bao la nhé. Biển vẫn còn nhiều “ông già” câu giỏi lắm. Nhưng, đừng sợ nhé. Không được sợ!
Bài tập làm văn điểm cao nhất quãng đời học sinh ấy, tôi cất kỹ trong một ngăn cặp cũ. Để những khi rợi rã ngồi lông bông bên sông đời, tôi lại giở ra nghiền ngẫm. Tảng băng trôi, quên. Những cái tên Mỹ Santiago, Manolin, quên. Biển cả, giếng lớn, quên. Chỉ có hình ảnh con cá kiếm khổng lồ ánh bạc chỉ còn “cái xương sống kẻ thành một đường trắng trơ trụi”, giá mà quên được sẽ đỡ nhục nhằn biết bao nhiêu. Giấc mơ con cá kiếm từ thuở mười bảy bám vào trí nhớ, bám vào đời. Cậu thanh niên là tôi bây giờ, chưa ba mươi tuổi, chưa đi hết nửa đời người nhưng đã nghe phơ phất hy vọng bọt bèo, trên từng cánh sóng. Cô giáo nói:
- Bơi xa, thật xa ngoài đại dương bao la nhé. Biển vẫn còn nhiều “ông già” câu giỏi lắm. Nhưng, đừng sợ nhé. Không được sợ!
Em có sợ đâu, cô ơi!
Con cá kiếm chín điểm có lúc nào nguôi quẫy đạp trong tim tôi. Giấc mơ của một con cá, nếu nó nói được, chắc chắn không có gì khác ngoài một cái lưỡi câu đủ nhọn trong tay một người câu giỏi – để neo giữ vàng son đời mình, không bỏ rơi dù chỉ là một cái vẩy.
Tôi lại nhớ.
Nhà tôi ở một vùng ven biển, quay mặt ra con đường dẫn Sài Gòn về Cấp. Kề bên nhà là đồng. Sau lưng nhà là đồng. Có con sông ư ử nước đỏ ngầu. Lúc nhỏ, tôi theo đám trẻ con trong xóm mò cua bắt ốc chơi hết trò cỏ lau cỏ gà tới trò bán hàng. Nghịch ngợm chán, thể nào cũng có đứa ủ ê:
- Sông cạn quá, tụi bây ơi. Đi ra biển chơi đi!
Và cả đám len lén băng qua quốc lộ, bước nô náo theo hướng có tiếng sóng oàm oạp. Biển cũng đỏ. Nước biển cũng dềnh dàng như nước sông. Nhưng cớ gì đám con nít lại mê biển đến thế? Trong lúc tụi nó tìm hang cá bống để thả mấy cái cần câu tre xuống thì tôi ngồi bệt trên đê giương mắt ngó. Vệt đen mờ phía sóng quật ngoài kia có phải chuồng cọp Côn Đảo không? Mây ở đó có xốp xộp như mây trên đầu tôi bây giờ không? Tôi thích thú nhìn chúng bạn câu cá, còn bản thân mình thì chẳng ham hố gì trò chờ đợi. Cho tới khi lớn lên vẫn vậy. Mỗi lần nhìn những con cá nằm thin thít trong xô, thỉnh thoảng giãy đành đạch, máu rỉ từ quai miệng đã bị lưỡi câu xé quạc ra, tôi lại nghe một mùi tanh kỳ dị trong xó xỉnh nào đó con người mình. Tanh đến nỗi muốn nôn mửa ngay tức khắc. Đám trẻ con trạc tuổi tôi ngày xưa ấy, đã mừng rỡ biết bao nhiêu khi trên đường về xóm, nghe tôi hứa:
- Tao sẽ xin chị Hai tao gởi tiền về mua một mớ lưỡi câu xịn cho tụi bay câu cho đã. Chớ, mấy cái lưỡi câu tự chế bằng cọng kẽm sét cùn này, thiệt là tội nghiệp mấy con cá quá…
Có đứa phụ họa liền:
- Ừ, lưỡi câu bén thiệt bén mới không uổng một đời con cá.
Lần lữa mãi, chị Hai tôi cũng gởi về. Không phải một lưỡi câu, mà đàng hoàng một cái cần câu máy Made in USA 200 đô la. Lúc đó, đám con nít đã bốn phương tám hướng sóng đời.
Tôi nằm lì trên nền nhà thủy tạ giữa mặt hồ sau vườn như một con cá nằm chỏng chơ trên thớt. Không muốn giẫy nữa. Cái cần câu đen bóng ngả bóng xuống nước. Đời chưa bao bịt tôi bằng trùng trùng u vọng, nhưng thằng con trai hai mươi mấy tuổi đời đã thấm nghiền cái nỗi buồn trêu ngươi cứ bày ra trước trống không tâm hồn mình.
Mấy con cá chui đầu lên thở, ghé cặp mắt tròn vo ươn ướt nhìn. Từ ô cửa sổ trong nhà, tôi biết, Má đang nhìn ra. Chiều hôm trước, tôi vừa trở về nhà sau mấy năm rộn ràng nhảy múa trên hoang đàng sóng cặn, chưa kịp tắm rửa sạch sẽ, đã nghe Má điện thoại cho vựa cá giống ngoài chợ đem tới một giỏ cần xé đầy cá. Phi, chép, trắm, lóc, trê… Toàn là cá lớn. Má lẳng lặng thả xuống hồ lúc tôi lên nhà trên. Nhưng, tôi biết hết.
Nhưng, cá của Má và cái cần câu 200 đô la của chị Hai đã không níu giữ được tôi vào tháng ngày bình yên đó. Những mơ hồ sương khói u uất bám riết giấc ngủ mê, những vòng quay rên xiết mồ hôi buông thả. Tôi lao ra khỏi ao nhà, cho tới khi nghe nghèn nghẹn rát bỏng ở cổ họng thì lưỡi câu bén ngót tình cờ nào đã móc sâu vào cuống đời rồi. Càng giẫy càng đau. Càng cố sức kéo ra xa, càng hụt hơi chới với lê gần.
Con cá kiếm chín điểm cùng niềm kiêu hãnh bi hùng của tuổi trẻ như cái phao dập dềnh bập bềnh trên mặt sóng. Những cái phao – theo thời gian, được ngụy trang khéo léo và tự nhiên để dễ chiêu dụ đám cá. Là một tảng rong, một phiến lục bình, hay một chiếc lá khô. Hiện đại hơn, người ta còn gắn vào đó một con chip phát sóng ấm.
Ông già hí hửng kéo. Mong manh niềm hy vọng lại có sức nặng làm sao!
Lại chỉ là một cành cây khô! Ông già hít hà:
- Chà chà… vậy mà cứ tưởng…
Tôi ném mồi câu mới:
- Một con cá lạ, hả bác? Hi hi hi. Bác có để ý mấy tay câu phía bên kia bờ hồ không? Nãy giờ họ có cá liên tục. Toàn là cá lớn.
- Sao vậy nhỉ?
- Bác cứ để ý kỹ. Mồi câu của họ là gì?
- Mồi giả.
- Đúng. Mồi giả. Những con cá dễ bị người ta lừa như vậy đấy.
Dân sành câu ắt phải biết, khâu chuẩn bị mồi là quan trọng và công phu nhất. Tay câu giỏi phải biết trước mình muốn câu loại cá nào và cá ấy thích ăn mồi gì. Mấy năm gần đây, người ta còn chế ra những con mồi giả tẩm hương liệu hóa học, đã bao nhiêu con cá mắc lỡm uổng mạng mà không bao giờ hiểu được tại sao.
Lúc nhỏ, đọc truyện Phong thần, tôi cũng mang cái ngạc nhiên bí hiểm đó theo từng nhịp câu của ông già râu tóc bạc phơ. Câu không cần mồi, cũng chẳng cần lưỡi. Tôi hỏi, ba tôi trả lời bằng bài học về lòng kiên nhẫn và thời thế của người xưa. Cổ điển quá chăng? Anh trai tôi cách tân hơn, nói đó là sức mạnh của thời gian. Cũng mơ hồ không kém.
Tôi lại hỏi. Ông già tợp một ngụm trà đã nguội, bấp bênh:
- Thì là, Khương lão tiền bối đã biết trước con cá mình muốn câu là nước Thương mục nát và khốn khổ, không cớ gì câu nó bằng Thời thế hay Anh hùng gì ráo, uổng lắm. Câu mà không câu. Cũng có thể, cứ để nó buông cần câu con cá là mình. Câu và bị câu, ngẫm ra có khác gì mấy đâu…
Ông già lắc lư kể chuyện.
Trước một quán rượu đông đúc nọ, có một ông già (cũng lại một ông già), tay cầm chiếc cần câu, thòng dây vào một cái chậu nước nhỏ trước mặt. Một người khách bước qua, thấy lạ quá, đến ngồi gần ông già, im lặng nhìn. Ông già cũng im lặng, thỉnh thoảng lại nhấc cần lên, sửa lại mồi, lại thả xuống, tủm tỉm một mình. Người khách lên tiếng:
- Bác à, bác nghỉ tay uống với cháu một cốc nhé.
Ông già không nói gì, đưa tay đón cốc rượu uống cạn một hơi. Hít hà, khua cần. Người khách tiếp:
- Bác à, bác có thể nói cho cháu biết bác đang câu gì thế? Cháu có thấy con cá nào trong cái chậu bé xíu này đâu?
Ông già nhìn người khách, rồi đưa mắt qua bên cạnh giỏ câu của mình. Một đống ly cốc ngả nghiêng.
- Tôi đếm không lầm, thì anh là con cá thứ mười lăm rồi đó!
Tôi giở cần lên. Nặng một chiếc giày nát bùn.
Giá như tôi được gặp ông già sớm hơn. Có trễ quá không, khi tôi đã mấy lần ngắc ngoải giữa ảo tưởng và tham vọng bủa vây. Tin yêu và hy vọng thả phung phí xuống bùn để gom về những cành mục hoặc những chiếc giày rách nát không bao giờ vừa chân mình.
- Về thôi, cháu ạ. Cũng nên nghỉ ngơi sớm. Và để yên cho lũ cá nghỉ ngơi nữa.
Ông già đứng dậy gom cần ra về. Tất cả số cá câu được từ sáng giờ, ông thả lại xuống hồ.
Đường về thành phố đã lên đèn. Trăng mười mấy rồi mà tròn đến lạ.
Tôi ngẩng đầu đớp trăng. Thương ông già quay quắt lối mòn chiều.


