Chính trị

Mỗi dự án FDI là một “hệ sinh thái” phát triển doanh nghiệp Việt

Hoàng Ngọc, Ảnh: Phạm Thắng • 18/10/2026 12:59

Thảo luận tại Tổ 7 gồm Đoàn ĐBQH TP. Bắc Ninh và tỉnh Lâm Đồng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dự kiến kế hoạch năm 2027, các đại biểu cho rằng cần chuyển từ tư duy coi FDI là động lực tăng trưởng chủ yếu sang tư duy sử dụng FDI như một đòn bẩy để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Mỗi dự án FDI phải được xem như một “hệ sinh thái” phát triển doanh nghiệp Việt thay vì chỉ là một nhà máy sản xuất đặt trên lãnh thổ Việt Nam.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Phạm Thắng
Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Phạm Thắng

Chuyển trọng tâm sang đánh giá chất lượng nguồn thu

Đánh giá cao bức tranh kinh tế 9 tháng với nhiều kết quả tích cực, nhưng ĐBQH Nguyễn Như So (TP. Bắc Ninh) cho rằng, nền kinh tế vẫn đứng trước những yêu cầu lớn về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng duy trì ổn định các cân đối vĩ mô.

Đại biểu phân tích, mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm phấn đấu từ 10% trở lên, đòi hỏi tăng trưởng quý IV đạt 12,5%. Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng cả năm khoảng 4,5%; riêng CPI 9 tháng tăng 5,08% so với cùng kỳ, cho thấy áp lực lạm phát vẫn cần được theo dõi chặt chẽ.

ĐBQH Y Thanh Hà Niê Kđăm (Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Phạm Thắng
ĐBQH Y Thanh Hà Niê Kđăm (Lâm Đồng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Bên cạnh đó, “nền kinh tế đã nhập siêu 19,42 tỷ USD cho thấy mức độ phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện và đầu vào nhập khẩu, phản ánh năng lực tự chủ của nền kinh tế còn hạn chế. Riêng 9 tháng năm 2026 có hơn 172 nghìn doanh nghiệp rời thị trường”, đại biểu lưu ý.

Đại biểu nhấn mạnh, vấn đề đặt ra không chỉ là quy mô tăng trưởng, số thu ngân sách hay tổng nguồn lực vốn đầu tư đã huy động được, mà quan trọng hơn là chất lượng của các nguồn lực, khả năng chuyển hoá thành năng lực sản xuất và hiệu quả đóng góp đối với tăng trưởng dài hạn.

ĐBQH Nguyễn Như So (TP. Bắc Ninh) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng
ĐBQH Nguyễn Như So (TP. Bắc Ninh) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Đại biểu Nguyễn Như So đề nghị tập trung vào 4 nhóm giải pháp trọng tâm để tháo gỡ điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Một là, đối với chính sách tài khoá và hàm ý điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng liên quan đến hiệu quả truyền dẫn nguồn vốn tới khu vực doanh nghiệp.

Theo đó, cần chuyển trọng tâm từ đánh giá chủ yếu theo quy mô thu ngân sách và mức vượt dự toán sang đánh giá đồng thời chất lượng nguồn thu, khả năng duy trì trong trung hạn và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chi. Đặc biệt, cần làm rõ tỷ trọng đóng góp của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong tổng thu ngân sách, cũng như khả năng duy trì các khoản thu từ đất đai, dầu thô và hoạt động tài chính trong nước.

Các đại biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Phạm Thắng
Các đại biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Hai là, chuyển từ tư duy coi FDI là động lực tăng trưởng chủ yếu sang tư duy sử dụng FDI như một đòn bẩy để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Đại biểu cho rằng, mỗi dự án FDI phải được xem như một “hệ sinh thái” phát triển doanh nghiệp Việt, thay vì chỉ là một nhà máy sản xuất đặt trên lãnh thổ Việt Nam. Một tập đoàn lớn đầu tư vào Việt Nam không chỉ cần tạo ra việc làm mà phải kéo theo hàng chục, hàng trăm doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng, giúp doanh nghiệp Việt từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Các đại biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Phạm Thắng
Các đại biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Đặc biệt, cần chấm dứt tư duy “trải thảm đỏ nhưng đứng ngoài chuỗi giá trị”. Việt Nam không thiếu sức hấp dẫn để thu hút FDI, điều chúng ta cần là chất lượng của dòng vốn đó. Chính sách FDI trong giai đoạn mới phải hướng tới một mục tiêu rõ ràng: mỗi đồng ưu đãi của Nhà nước phải đổi lấy năng lực sản xuất mới, công nghệ mới và sự trưởng thành của doanh nghiệp Việt Nam.

Ba là, cần tạo đột phá trong phát triển doanh nghiệp nông nghiệp thông qua mô hình hợp tác xã kiểu mới, nắm giữ cổ phần nông hộ, biến đất đai và nguồn lực phân tán thành nền tảng hình thành những doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn.

Các đại biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Phạm Thắng
Các đại biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Bốn là, coi đầu tư cho môi trường và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu là một khoản đầu tư cho tăng trưởng, không phải chỉ là chi phí.

Đại biểu nhấn mạnh, chính sách cần chuyển từ hỗ trợ sau thiệt hại sang tạo động lực đầu tư trước để giảm thiệt hại, phòng ngừa rủi ro. Nhà nước cần có cơ chế ưu đãi đủ thực chất về tín dụng, thuế, đất đai và đầu tư; khuyến khích doanh nghiệp chủ động đầu tư, đổi mới công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao khả năng chống chịu và ứng phó với biến đổi khí hậu. Khẩn trương hoàn thiện, ban hành cơ chế lãi suất 2% đối với các dự án xanh, áp dụng tiêu chuẩn ESG…Đồng thời phát triển mạnh thị trường carbon, tạo thêm nguồn lực và động lực cho quá trình chuyển đổi. Đây không chỉ là chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mà là đầu tư để bảo vệ năng lực sản xuất và sức chống chịu của cả nền kinh tế.

ĐBQH Nguyễn Trường Giang (tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng
ĐBQH Nguyễn Trường Giang (tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Đánh giá chất lượng tăng trưởng qua năng suất lao động

Quan tâm đến khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, nhất là yêu cầu tăng trưởng quý IV, ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) đề nghị, Chính phủ bổ sung kịch bản theo từng khu kinh tế, nêu rõ động lực từ sản xuất, tiêu dùng, đầu tư công, đầu tư tư nhân và xuất khẩu.

Đại biểu đề nghị rà soát, thuyết minh đầy đủ tình trạng của cả 15 chỉ tiêu chưa được nêu rõ trong hai nhóm “đạt, vượt” và “phấn đấu đạt”. Bên cạnh tốc độ tăng trưởng, cần nhấn mạnh chất lượng tăng trưởng qua năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, tình hình doanh nghiệp, thu nhập và đời sống nhân dân.

ĐBQH Dương Khắc Mai (tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng
ĐBQH Dương Khắc Mai (tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Quan tâm đến tình hình giải ngân kinh phí dành cho hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết 57/NQ -TW, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) lưu ý, chúng ta có nguồn vốn nhưng chưa giải ngân được cao vì khả năng hấp thụ nguồn vốn chưa cao. Nguồn nhân lực khoa học công nghệ còn thiếu, chất lượng và năng lực nghiên cứu chưa được bảo đảm.

Đại biểu cho rằng, quan trọng nhất là phải có nhóm nghiên cứu với đầy đủ năng lực, tổ chức thực hiện, vận hành thiết bị, quản lý kinh phí và tạo ra sản phẩm. Đối với lĩnh vực thiếu chuyên gia, nghiên cứu viên có kinh nghiệm, thì việc hấp thụ nguồn vốn đầu tư cho khoa học công nghệ còn nhiều khó khăn. Do vậy, đại biểu đề nghị cần đánh nguyên nhân từ hệ thống đào tạo về khoa học công nghệ, nhất là từ giáo dục phổ thông.

ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng
ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (tỉnh Lâm Đồng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: Phạm Thắng

Nhấn mạnh chúng ta đã có rất nhiều cơ chế đặc thù để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhưng rất cần các chính sách để phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh đề nghị, thiết kế chính sách theo cả quá trình đào tạo, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”, năm nay hỗ trợ được, năm sau không hỗ trợ được; rà soát các cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhà khoa học tại các trường đại học, viện nghiên cứu, đơn vị nghiên cứu công lập; có chính sách phát triển đội ngũ nghiên cứu trẻ, chuyên gia đầu ngành, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, bảo đảm người có năng lực được giao nhiệm vụ, có môi trường làm việc và có cơ hội phát triển.

    Mỗi dự án FDI là một “hệ sinh thái” phát triển doanh nghiệp Việt
    • Mặc định