Mở rộng phạm vi bảo tồn từ giá trị vật thể sang giá trị phi vật thể gắn với kiến trúc
Thảo luận tại Tổ 4 (gồm Đoàn ĐBQH TP. Huế và các tỉnh Khánh Hòa, Lào Cai) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, các ĐBQH nhấn mạnh, không gian văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng là vấn đề rất quan trọng, do đó, cần làm sâu sắc hơn bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc tại dự thảo Luật.
.jpg)
Làm rõ mối quan hệ giữa kiến trúc với điều kiện sinh kế của cộng đồng
Cơ bản nhất trí với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, các ĐBQH nhấn mạnh, việc xây dựng Luật nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế về hoạt động kiến trúc; thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, ĐBQH Tráng A Dương (Lào Cai) bày tỏ nhất trí với việc dự thảo Luật sửa đổi Điều 5 theo hướng làm rõ hơn nội hàm bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc.

Tuy nhiên, để phản ánh đầy đủ giá trị văn hóa của các dân tộc, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đồng thời bảo đảm thống nhất với pháp luật về di sản văn hóa và các chủ trương của Đảng về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đại biểu Tráng A Dương đề nghị mở rộng nội hàm của khái niệm này.
Cụ thể, bổ sung tại khoản 1 Điều 5 các nội dung: tri thức bản địa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, không gian văn hóa truyền thống và điều kiện sinh kế đặc trưng của cộng đồng.

Theo đó, khoản 1 cần được chỉnh lý theo hướng: “Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc là các đặc trưng về tổ chức không gian, hình thức kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, cảnh quan, tri thức bản địa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, không gian văn hóa truyền thống và điều kiện sinh kế đặc trưng của cộng đồng phản ánh giá trị văn hóa, lịch sử, tập quán sinh hoạt và điều kiện tự nhiên của cộng đồng dân cư, được hình thành trong một khu vực xác định”.
Bên cạnh đó, đại biểu Tráng A Dương cũng đề nghị sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 5 theo hướng: “Khu vực, tuyến phố, điểm dân cư, công trình kiến trúc, không gian văn hóa truyền thống có giá trị cần bảo tồn, kế thừa”.

Việc bổ sung các nội dung này, theo đại biểu, sẽ mở rộng phạm vi bảo tồn từ các giá trị vật thể sang các giá trị phi vật thể gắn với kiến trúc như tri thức bản địa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và không gian văn hóa truyền thống; đồng thời, làm rõ mối quan hệ giữa kiến trúc với điều kiện sinh kế của cộng đồng, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng quy chế quản lý kiến trúc phù hợp với đặc thù từng vùng, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Phân cấp quản lý về kiến trúc cần cụ thể hóa hơn
Cùng quan điểm, ĐBQH Phùng Đức Tiến (Khánh Hòa) cho rằng, không gian văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng là vấn đề rất quan trọng, do đó, cần làm sâu sắc hơn bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc tại dự thảo Luật.

Theo đại biểu, vấn đề phân cấp trong dự thảo Luật đã thực hiện đúng chủ trương của Đảng, quy định phân cấp đến địa bàn cấp xã. Song, thực tế cấp xã quản lý kiến trúc còn gặp khó vì thiếu nhân lực và nguồn nhân lực chưa đủ trình độ chuyên môn. Do vậy, tỉnh có thể đề xuất xây dựng một bộ khung hoặc Bộ trưởng Bộ Xây dựng phải có Thông tư hướng dẫn các tiêu chí mà xã đạt được để quản lý kiến trúc.
Đại biểu Phùng Đức Tiến đề nghị hướng dẫn phân cấp quản lý về kiến trúc cần cụ thể hóa hơn; đồng thời, cụ thể hóa các tiêu chí mà xã có thể đạt được điều kiện để quản lý kiến trúc.
“Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc lần này so với dự án Luật trình đợt đầu đã được tiếp thu các ý kiến rất đầy đủ, thay đổi nhiều và cụ thể hơn, phù hợp với hoàn cảnh”, đại biểu Phùng Đức Tiến nêu rõ.
Liên quan đến cơ sở dữ liệu hành nghề kiến trúc, ĐBQH Võ Thanh Tùng (TP. Huế) nêu rõ, dự thảo Luật yêu cầu cá nhân muốn hành nghề thì thông tin năng lực bắt buộc phải được cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đăng tải, cập nhật lên hệ thống.

Băn khoăn “liệu đây có phải là thêm một giấy phép nữa hay không”, đại biểu cho rằng, bản chất quy định này vẫn là cơ chế “tiền kiểm”.
Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo quy định theo hướng: bãi bỏ hoàn toàn yêu cầu cơ quan nhà nước phải xác thực thông tin năng lực trước khi hành nghề đối với các chức danh được miễn chứng chỉ; áp dụng triệt để cơ chế “Tự công bố - Tự chịu trách nhiệm”. Người hành nghề tự khai báo, hệ thống tự động ghi nhận để họ làm việc ngay. Nhà nước chỉ “hậu kiểm” thông qua việc kết nối, xác thực chéo dữ liệu tự động với cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội và áp dụng chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp gian lận.

