Mở rộng đầu ra cho nông sản miền núi
Dù sở hữu nhiều sản phẩm đặc sản mang giá trị riêng, việc đưa nông sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ra thị trường vẫn gặp không ít trở ngại. Để có đầu ra ổn định, sản phẩm tốt là chưa đủ.
Có sản phẩm chưa đồng nghĩa có đơn hàng
Nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm xanh, sạch, chất lượng cao, thời gian qua, HTX Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng (Lạng Sơn) đã chú trọng nâng cao chất lượng các giống na đặc sản, sản xuất theo hướng hữu cơ, áp dụng cách “để cỏ nuôi đất”. Trong mùa vụ, mỗi ngày, mỗi hộ thành viên có thể thu hoạch 5 - 7 tạ, thậm chí 1 - 2 tấn na. Sản phẩm chủ yếu được thương lái đến tận vườn thu mua, bên cạnh các kênh Zalo, Facebook và thương mại điện tử; HTX cũng đã mở gian hàng trên TikTok Shop. Một số khách hàng cũ đặt 5 - 10 hộp na làm quà, yêu cầu lấy đúng từ những vườn đã được HTX giới thiệu.
Tuy nhiên, tại tọa đàm trực tuyến “Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 3/9, Giám đốc HTX Lê Đức Hải cho biết, khó khăn lớn hiện nay là kết nối với các chuỗi tiêu thụ ổn định. HTX chủ yếu vẫn dựa vào quảng bá, khách tham quan và thương lái. Để tiếp cận siêu thị, các chuỗi hoa quả sạch và những kênh phân phối hiện đại, HTX mong muốn hoàn thiện bộ nhận diện sản phẩm với chứng nhận OCOP, tem, mã QR, bao bì và truy xuất nguồn gốc, qua đó nâng độ tin cậy của sản phẩm.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương Bùi Nguyễn Anh Tuấn xác nhận, “có sản phẩm” nhưng chưa có “đơn hàng thường xuyên” là câu chuyện điển hình của nhiều HTX, chủ thể sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo ông Tuấn, để có đơn hàng ổn định, các HTX không thể chỉ trông chờ vào hoạt động xúc tiến thương mại mà phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể của thị trường. Sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, sản lượng, chủng loại, thời điểm giao hàng, quy cách đóng gói; đồng thời có đầy đủ dữ liệu, chứng từ, truy xuất và khả năng điều chỉnh theo phản hồi của thị trường.
Các nút thắt hiện nay tập trung ở nguồn cung, truy xuất sản phẩm, thương mại hóa giá trị văn hóa, logistics và năng lực tham gia các kênh phân phối. Theo ông Tuấn, xúc tiến thương mại chỉ là một “cánh cửa”; năng lực cung ứng, tiêu chuẩn và quản trị của HTX mới quyết định khả năng đứng vững trên thị trường.
Trưởng phòng quản lý OCOP và du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đào Đức Huấn cho rằng, điểm nghẽn còn nằm ở năng lực tổ chức và tư duy thị trường của HTX, chứ không chỉ ở chất lượng sản phẩm hay vùng nguyên liệu.
Theo ông Huấn, một HTX có thể sản xuất tốt nhưng khi bước vào thị trường phải đáp ứng những yêu cầu khác nhau tùy từng hệ thống phân phối. Thương mại điện tử cũng đòi hỏi năng lực công nghệ và đội ngũ vận hành. Vì vậy, HTX phải chuyển từ tư duy “sản xuất rồi chờ người đến mua” sang chủ động tham gia thị trường, đáp ứng yêu cầu về trách nhiệm pháp lý, chất lượng, đóng gói và khả năng cung ứng của từng kênh.
Mở đúng “cửa” thị trường
Để khai thác hiệu quả hơn sức cầu nội địa và tạo đầu ra bền vững cho nông sản vùng dân tộc thiểu số và miền núi, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn lưu ý, không phải sản phẩm nào cũng cần bán đại trà hoặc bằng mọi giá đưa vào hệ thống phân phối hiện đại. Quan trọng là lựa chọn đúng phân khúc, quy mô và kênh tiêu thụ phù hợp với từng sản phẩm.
Ông Tuấn cho rằng, các hệ thống phân phối hiện đại tại đô thị và trung tâm tiêu dùng lớn là một hướng tiềm năng nếu sản phẩm đáp ứng yêu cầu về chất lượng, bao bì, dữ liệu và nguồn cung. Thương mại điện tử, mạng xã hội và các nền tảng bán hàng đa kênh giúp sản phẩm vùng xa tiếp cận trực tiếp người mua và truyền tải câu chuyện về nguồn gốc, bản sắc. Du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng cũng mở ra thị trường khi sản phẩm gắn với trải nghiệm tại điểm đến. Bên cạnh đó là các phân khúc quà tặng, chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và có trách nhiệm.
Ông Đào Đức Huấn bổ sung, để sản phẩm tiếp cận thị trường bền vững, trước hết cần xây dựng vùng nguyên liệu nhằm tạo nguồn cung ổn định; ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao chất lượng, nhất là với sản phẩm tươi sống; đồng thời xây dựng thương hiệu dựa trên câu chuyện và giá trị đặc trưng của sản phẩm.
Quan trọng hơn, phải nâng cao năng lực cho các chủ thể. “Cho dù chúng ta có bao bì, có vùng nguyên liệu nhưng năng lực của HTX không thay đổi thì chúng ta cũng không bán được sản phẩm”, ông Huấn nói. Do vậy, cần thường xuyên tập huấn, hướng dẫn, đồng hành cùng HTX và khuyến khích phát triển đa kênh, kết hợp thương mại điện tử với du lịch trải nghiệm, du lịch nông thôn.
Thực hiện Nghị quyết số 88/NQ-CP về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, thời gian tới, đại diện Bộ Công Thương cho biết, sẽ tập trung vào 6 nhóm giải pháp đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trọng tâm là kết nối cung - cầu theo hướng chọn lọc, chuẩn bị, thử nghiệm và theo dõi sau kết nối, thay vì chỉ tổ chức sự kiện; phát huy vai trò nhà phân phối trong cung cấp thông tin thị trường; hỗ trợ chuyển đổi số; nâng chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, bao bì và tổ chức lại logistics theo vùng.
Đáng chú ý, hiệu quả chính sách sẽ được đánh giá bằng kết quả đầu ra cụ thể như tỷ lệ sản phẩm duy trì được trên kệ, đơn hàng lặp lại, tăng trưởng doanh thu, giảm chi phí, số việc làm và thu nhập tăng thêm tại cộng đồng.

