Văn hóa

Mở đường thể chế, nâng tầm du lịch Việt Nam

TS. Đoàn Mạnh Cương • 01/11/2026 07:46

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị đã hoạch định tầm nhìn chiến lược, đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, để chuyển hóa quyết tâm chính trị thành động lực tăng trưởng thực tế, Quốc hội cần ban hành Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù. Đây không chỉ là đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, mà còn là bước mở đường, tạo hành lang pháp lý đột phá cho du lịch bứt phá.

Tính cấp thiết của một Nghị quyết đặc thù

Bước vào giai đoạn phát triển mới, du lịch Việt Nam chứng kiến sự phục hồi và bứt phá ngoạn mục cả về lượt khách quốc tế lẫn doanh thu, đóng góp vào GDP, tạo nhiều việc làm và thúc đẩy sinh kế cộng đồng tại vùng dân tộc thiểu số, nông thôn.

Tuy nhiên, những bất cập mang tính hệ thống ngày càng rõ nét như mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế thấp hơn đáng kể so với Thái Lan, Malaysia hay Singapore; thời gian lưu trú chưa đạt kỳ vọng; liên kết chuỗi giá trị rời rạc; hạ tầng kết nối chưa đồng bộ; sản phẩm du lịch ban đêm còn thiếu hụt…

Sau khi đến ga Ninh Bình, đoàn đã tham quan Thung Ui, Cố đô Hoa Lư và Tuyệt Tịnh Cốc trước khi trở về Hà Nội. Ảnh: Sở Du lịch Ninh Bình
Khách tham quan Thung Ui, Ninh Bình. Ảnh: Sở Du lịch Ninh Bình

Nguyên nhân cốt lõi không nằm ở tiềm năng, mà bắt nguồn từ rào cản thể chế. Luật Du lịch 2017 sau gần một thập kỷ vận hành đã xuất hiện khoảng trống trước kinh tế số, kinh tế đêm, du lịch xanh và các mô hình kinh doanh mới, trong khi sửa đổi toàn diện Luật đòi hỏi quy trình lập pháp bài bản, mất nhiều thời gian.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Để chuyển hóa chỉ đạo chiến lược thành dòng chảy kinh tế thực tế, công cụ hiệu quả nhất lúc này là một Nghị quyết của Quốc hội, tạo ra “hành lang pháp lý thử nghiệm” (sandbox) an toàn, linh hoạt, tháo gỡ tức thì các nút thắt về đầu tư, thuế, đất đai, thị thực và ngân sách trong khi chờ hệ thống luật chuyên ngành được cập nhật.

5 nhóm chính sách đặc thù trọng tâm

Theo đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo, sẽ có 5 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù dự kiến trình Quốc hội xem xét.

Một là, phân loại dự án động lực và gói ưu đãi đầu tư vượt trội. Các dự án được phân tầng là dự án du lịch chất lượng cao, dự án du lịch động lực và dự án du lịch động lực mang tính chiến lược. Đi kèm là gói ưu đãi được thiết kế theo từng loại dự án. Dự án chất lượng cao được hưởng chính sách hỗ trợ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào, thuê tài sản công chưa sử dụng.

Tuy nhiên, ưu đãi đi kèm ràng buộc hạch toán riêng hạng mục du lịch, chọn mức có lợi nhất không cộng dồn; không duy trì điều kiện sẽ bị chấm dứt ưu đãi và hoàn trả thuế, tiền thuê đất đã miễn, giảm. Đây là “đòn bẩy” thu hút các tập đoàn hàng đầu thế giới, kiến tạo cực tăng trưởng du lịch mới.

Hai là, khung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) và kinh tế đêm. Chính sách được thiết kế miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm thuế trong một thời gian nhất định đối với mô hình kinh doanh du lịch mới, với điều kiện ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và có quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ.

Đáng chú ý, cho phép thử nghiệm có kiểm soát hoạt động 24/7 đối với tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hòa nhạc, phố lễ hội, khu giải trí tích hợp quy mô lớn, thủ tục rút gọn, cấp phép một lần cho sự kiện định kỳ. Với du lịch kết hợp khám chữa bệnh, cho phép áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, công nhận giấy phép hành nghề nước ngoài và thanh toán chi phí xuyên biên giới.

Đa dạng hóa sản phẩm là một trong những yếu tố tăng khả năng giữ chân và gia tăng mức chi tiêu của du khách quốc tế. Ảnh: Trung tâm Xúc tiến du lịch Đà Nẵng
Đa dạng hóa sản phẩm là một trong những yếu tố tăng khả năng giữ chân và gia tăng mức chi tiêu của du khách quốc tế. Ảnh: Trung tâm Xúc tiến du lịch Đà Nẵng

Ba là, chính sách thị thực (visa) linh hoạt và tạo thuận lợi nhập cảnh, thu hút chuyên gia quốc tế. Thị thực là “cánh cửa” đầu tiên của du lịch quốc tế. Tiến tới mở rộng miễn thị thực song phương cho các thị trường trọng điểm có khả năng chi tiêu cao, kết nối hàng không thuận lợi; ưu tiên khách lưu trú dài ngày, khách quay trở lại, khách kết hợp công vụ, hội nghị, hội thảo; nghiên cứu thí điểm visa cho người làm việc từ xa. Người nước ngoài đến khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe dài ngày được xem xét thị thực, cư trú thuận lợi trên cơ sở xác nhận của cơ sở tiếp nhận đủ điều kiện, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đáng chú ý, chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài trình độ cao, nghệ sĩ, diễn viên làm việc tại các dự án chất lượng cao, động lực, chiến lược được đề xuất xem xét miễn giấy phép lao động, được cấp thị thực, thẻ tạm trú theo thời hạn hợp đồng lao động.

Bốn là, phát triển nhân lực du lịch chất lượng cao. Nhà nước hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhân lực chuyên sâu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số về du lịch theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt và trong phạm vi dự toán. Các chính sách thu hút nhân lực và nâng cao năng lực cơ sở đào tạo du lịch do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Năm là, bố trí nguồn lực ngân sách và phát triển du lịch cộng đồng bền vững. Nhà nước ưu tiên ngân sách đầu tư hạ tầng giao thông kết nối đa phương thức từ cửa ngõ quốc tế đến các cực tăng trưởng du lịch; bảo đảm kinh phí xúc tiến du lịch quốc gia; bổ sung ngân sách có mục tiêu cho địa phương vùng khó khăn.

Điểm nhấn là hỗ trợ du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn di sản văn hóa vùng dân tộc thiểu số, miền núi và hải đảo, với điều kiện có phương án chia sẻ lợi ích cho cộng đồng theo quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Giải pháp khả thi, thực hiện đồng bộ

Chính sách dù đột phá đến đâu cũng chỉ có giá trị khi được tổ chức thực hiện hiệu quả. Vì thế, khi Nghị quyết được Quốc hội thông qua, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Theo đó, Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định quy định chi tiết, bảo đảm chính sách có hiệu lực đồng bộ từ ngày 01/01/2027, đồng thời báo cáo Quốc hội hàng năm.

Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho địa phương gắn với trách nhiệm giải trình. Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về dự án du lịch, doanh nghiệp được hưởng ưu đãi, số lượng du khách và các chỉ tiêu liên quan đến du lịch để hậu kiểm, đánh giá định kỳ minh bạch, xử lý trường hợp khai báo sai, sử dụng sai mục đích hoặc không thực hiện cam kết, tránh trục lợi chính sách.

Cần miễn trừ trách nhiệm cho người đứng đầu, cán bộ đã tuân thủ đúng quy trình, không có động cơ vụ lợi nhưng gặp rủi ro khách quan khi thử nghiệm chính sách mới là “lá chắn pháp lý” quan trọng, giải tỏa tâm lý sợ sai, thúc đẩy đổi mới sáng tạo…

Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai, được kỳ vọng là “đòn bẩy” thể chế chiến lược, chuyển hóa quyết tâm của Đảng tại Nghị quyết số 26-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 263/NQ-CP thành động lực phát triển trong thực tiễn. Khi “điểm nghẽn” thể chế được khai thông, các chính sách đột phá về đất đai, đầu tư, thuế, thị thực và nhân lực được kích hoạt, du lịch Việt Nam chắc chắn sẽ cất cánh, khẳng định vị thế ngành kinh tế thực sự mũi nhọn.

    Mở đường thể chế, nâng tầm du lịch Việt Nam
    • Mặc định