Kinh tế

Mở đường cho vật liệu xây dựng xanh, tuần hoàn

Hà Lan 18/09/2026 07:10

Ngành vật liệu xây dựng đang đứng trước yêu cầu vừa bảo đảm nguồn cung, nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa giảm tiêu hao tài nguyên và phát thải. Dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng được kỳ vọng tạo khuôn khổ pháp lý cho quá trình chuyển đổi này, nhưng không làm phát sinh giấy phép con hay cơ chế “xin - cho”.

Cần khuôn khổ pháp lý cho một ngành công nghiệp nền tảng

Ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đã hình thành năng lực sản xuất lớn, với khoảng 125 triệu tấn xi măng, 150 triệu mét khối bê tông, 11,7 triệu tấn thép xây dựng, 840 triệu mét vuông gạch ốp lát và hơn 40 tỷ viên gạch xây quy tiêu chuẩn mỗi năm. Trong đó, sản lượng xi măng của Việt Nam đứng thứ ba và gạch gốm ốp lát đứng thứ năm thế giới.

Cùng với mở rộng năng lực sản xuất, công nghệ từng bước được đổi mới, góp phần giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng và phát thải khí nhà kính. Các hệ thống tận dụng nhiệt thừa tại một số nhà máy thép, xi măng và kính tạo ra khoảng 5 tỷ kWh mỗi năm. Khoảng 20 triệu tấn tro, xỉ nhiệt điện và hơn 2 triệu tấn xỉ luyện kim được tái sử dụng hàng năm; tỷ lệ nhiên liệu thay thế trong sản xuất xi măng đạt khoảng 7-10%.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh, ngành vật liệu xây dựng vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Đầu tư phát triển còn dàn trải, thiếu trọng tâm, dẫn tới mất cân đối cung - cầu và lãng phí nguồn lực; hiệu quả sản xuất, kinh doanh chưa cao; đổi mới công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu; thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chưa được triển khai quyết liệt, trong khi áp lực về môi trường và yêu cầu giảm phát thải ngày càng lớn.

Phương thức quản lý vật liệu xây dựng được định hướng dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu, công khai thông tin và hậu kiểm
Phương thức quản lý vật liệu xây dựng được định hướng dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu, công khai thông tin và hậu kiểm. Ảnh: C.Lan

Đây là một trong những cơ sở thực tiễn đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho quản lý và phát triển vật liệu xây dựng. Tại hội nghị tham vấn chính sách dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng mới đây, Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh nhấn mạnh, việc nghiên cứu xây dựng Luật không chỉ xuất phát từ yêu cầu thực tiễn mà còn là nhiệm vụ chính trị, lập pháp đã được xác định tại các chỉ thị, kết luận, quyết định, kế hoạch và nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền.

Từ góc độ cơ quan của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải thống nhất với sự cần thiết xây dựng một đạo luật chuyên ngành về vật liệu xây dựng. Theo ông, vật liệu xây dựng cần được xác định là ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược, tập trung phát triển các dòng sản phẩm thế hệ mới, xanh, sạch, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng; chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu và từng bước làm chủ công nghệ.

Ông Khải cũng lưu ý yêu cầu đẩy mạnh sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu thay thế để giảm phát thải, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng; đồng thời bảo đảm nguồn cung các vật liệu cơ bản như cát, đá, xi măng, thép minh bạch, ổn định.

Không tạo thêm “giấy phép con”

Theo định hướng của Bộ Xây dựng, Luật sẽ tiếp cận theo chuỗi từ nguyên liệu, đầu tư, sản xuất, chất lượng, lưu thông, sử dụng đến thu hồi, tái chế và tái sử dụng.

Ông Nguyễn Hữu Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng cho biết, các chính sách được thiết kế nhằm hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho quản lý và phát triển vật liệu xây dựng; đồng thời thúc đẩy ngành phát triển hiện đại, xanh, tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đáng chú ý, cơ quan soạn thảo xác định Luật không “bao trùm để thay thế” các luật khác. Những vấn đề đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh đầy đủ sẽ không quy định lại. Các thủ tục về đầu tư, khai thác khoáng sản, đất đai, môi trường, tiêu chuẩn - quy chuẩn, chất lượng, thuế, tín dụng, giá và những lĩnh vực chuyên ngành khác tiếp tục thực hiện theo pháp luật tương ứng.

Một nguyên tắc khác được nhấn mạnh là chính sách mới không làm phát sinh cơ chế “xin - cho”, không tái lập quy hoạch sản phẩm, không tạo thêm giấy phép, thủ tục xác nhận công suất hoặc điều kiện đầu tư, kinh doanh mới. Thay vào đó, phương thức quản lý được định hướng dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu, công khai thông tin và hậu kiểm.

Đối với nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường, định hướng cũng không phải phân bổ hành chính nguồn vật liệu mà tăng cường theo dõi, dự báo, cảnh báo sớm và phối hợp trên cơ sở dữ liệu. Cách tiếp cận này nhằm đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và hạn chế tạo thêm rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Tại hội nghị tham vấn, các ý kiến cơ bản thống nhất với sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu xây dựng Luật, đồng thời đề nghị hoàn thiện cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi sang sản xuất vật liệu xanh, vật liệu tái chế. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cũng cần được hoàn thiện, tạo điều kiện đưa vật liệu mới vào sử dụng trong công trình.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh, quá trình hoàn thiện chính sách phải bảo đảm tinh thần kiến tạo phát triển và cơ chế thị trường; không thiết kế quy hoạch sản phẩm, phân bổ hành chính công suất hoặc nguồn vật liệu; không tạo “giấy phép con”, thủ tục chấp thuận vật liệu, điều kiện kinh doanh hay nghĩa vụ báo cáo mới nếu không thực sự cần thiết.

Với các chính sách về phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, khoa học và công nghệ, yêu cầu đặt ra là phải tạo được hành lang cho đổi mới, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa và thương mại hóa. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu cũng phải hướng tới kết nối, chia sẻ, sử dụng lại dữ liệu hiện có, phục vụ quản lý và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

Với một ngành vừa cung cấp đầu vào thiết yếu cho xây dựng, vừa sử dụng lượng lớn tài nguyên và năng lượng, khuôn khổ pháp lý mới vì thế phải giải quyết đồng thời hai yêu cầu: nâng cao hiệu lực quản lý và tạo không gian cho đổi mới. Việc giữ được nguyên tắc không phát sinh cơ chế “xin - cho”, đồng thời mở đường cho vật liệu mới, vật liệu xanh, tái chế và kinh tế tuần hoàn sẽ là yêu cầu quan trọng trong quá trình tiếp tục hoàn thiện dự án Luật.

Sáu nhóm chính sách của dự án Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng đang được nghiên cứu gồm: (1) hoàn thiện công cụ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng; (2) đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng và phát triển vật liệu mới, vật liệu xanh; (3) quản lý nguyên liệu và bảo đảm nguồn cung; (4) sử dụng vật liệu xây dựng trong công trình; (5) thu hồi, tái chế chất thải làm nguyên liệu, phát triển kinh tế tuần hoàn; (6) quản lý nhà nước, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu về vật liệu xây dựng.

    Mở đường cho vật liệu xây dựng xanh, tuần hoàn
    • Mặc định