Mạch vốn an sinh nơi cực Tây Nam Tổ quốc Bài 1: Vốn nhỏ, sinh kế mới
Sau hợp nhất, tỉnh An Giang mới bước vào một không gian phát triển đa dạng hơn và cũng nhiều thách thức hơn. Không gian ấy mở ra dư địa mới cho phát triển kinh tế, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với nhiệm vụ giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống người dân.
Cơ hội đi liền với thách thức
An Giang sau hợp nhất có diện tích hơn 9.888km2, lớn nhất khu vực Tây Nam Bộ, dân số gần 5 triệu người, với 102 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 85 xã, 14 phường và 3 đặc khu Phú Quốc, Thổ Châu, Kiên Hải. Sự đa dạng về địa hình, dân cư, điều kiện sản xuất và khoảng cách địa lý vừa là cơ hội để địa phương phát triển nhưng cũng tạo ra thách thức lớn, nhất là trong triển khai các chính sách hỗ trợ người nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách ở những địa bàn xa trung tâm, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), vùng ven biển, hải đảo.

Trước thực trạng trên, cấp ủy, chính quyền tỉnh An Giang tiếp tục khẳng định, tín dụng chính sách là mạch vốn an sinh, là công cụ giảm nghèo quan trọng. Nguồn vốn ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) không chỉ giúp người dân có thêm điều kiện sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, mà còn mở ra cơ hội để người nghèo tự vươn lên bằng chính sức lao động của mình. Thực tế công tác giảm nghèo của An Giang những năm qua đã cho thấy đóng góp lớn của các chương trình tín dụng chính sách trong việc đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của địa phương giảm xuống còn 1,27%, với khoảng 12.736 hộ nghèo và 24.687 hộ cận nghèo. Riêng tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS còn 2,9%.
Giám đốc NHCSXH tỉnh An Giang Đoàn Công Thiệt chia sẻ, ước tính đến ngày 30/6/2026, tổng nguồn vốn của NHCSXH tỉnh An Giang đạt 15.093 tỷ đồng; trong đó, nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác đạt hơn 1.809 tỷ đồng, bằng 166,67% kế hoạch tăng trưởng Trung ương giao năm 2026. Tổng dư nợ cho vay 21 chương trình tín dụng chính sách đạt 14.984,5 tỷ đồng, hoàn thành hơn 90% kế hoạch giao, với 306.673 khách hàng còn dư nợ; bình quân dư nợ một khách hàng đạt 48,86 triệu đồng.
Những kết quả nêu trên đã phản ánh sinh động hiệu quả của việc huy động nguồn lực, ưu tiên đầu tư vốn ưu đãi của Nhà nước. Như Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh An Giang Lê Văn Phước nhận định: “nguồn vốn tín dụng chính sách không đơn thuần là công cụ tài chính, mà là “chìa khóa” quan trọng trong công cuộc giảm nghèo bền vững”.
Đánh thức nội lực
Tại xã Tri Tôn, nơi nằm trên vành đai biên giới Việt Nam - Campuchia, tín dụng chính sách đã góp phần quan trọng vào quá trình đa dạng hóa sinh kế, phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân.
Chủ tịch UBND xã Tri Tôn Trần Văn Cương cho biết, từ đồng vốn chính sách, đời sống nhân dân từng bước no đủ, tươi sáng hơn. Đặc biệt, tín dụng chính sách góp phần giúp xã trở thành điểm sáng về giảm nghèo bền vững ở miền núi biên cương, với tỷ lệ hộ nghèo hiện còn khoảng 3%, thu nhập bình quân đạt gần 70 triệu đồng/người/năm.
Nếu Tri Tôn cho thấy vai trò của dòng vốn chính sách ở vùng biên giới, thì tại phường Rạch Giá, câu chuyện của bà Trần Bích Phượng ở khu phố 4 lại cho thấy sự đổi thay trong từng hộ gia đình khi có sự hỗ trợ của vốn chính sách. Trước đây, dù có đất canh tác nhưng do thiếu vốn đầu tư, gia đình bà Phượng luôn trong cảnh khó khăn. Có đất mà không có vốn, có sức lao động mà thiếu điều kiện sản xuất, nên cuộc sống nhiều năm vẫn chật vật.
Được Chi hội Phụ nữ tổ dân phố hướng dẫn tiếp cận vốn vay của NHCSXH, bà Phượng mạnh dạn chuyển đổi diện tích vườn tạp sang trồng rau xanh, sạch, phù hợp với nhu cầu thị trường. Nhờ chọn đúng hướng, biết tận dụng đất đai và lao động gia đình, mô hình trồng rau giúp bà có nguồn thu hơn 8 triệu đồng mỗi tháng. Với một hộ từng khó khăn, đó không chỉ là thu nhập, mà còn là niềm tin vào khả năng tự đứng vững.
Tương tự, bà Trương Bích Thủy ở khu phố 2, phường Vĩnh Thông sử dụng nguồn vốn từ Chương trình Cho vay giải quyết việc làm để cải tạo ao hồ, xuống giống sen lấy gương và hoa thương phẩm. Mô hình trồng sen giúp gia đình bà có thu nhập ổn định hơn, đồng thời tận dụng hiệu quả diện tích đất sẵn có. Với bà Thủy, vốn chính sách đã tạo điều kiện để gia đình chủ động đầu tư sản xuất, thay vì chỉ trông chờ vào những nguồn thu bấp bênh.
Câu chuyện của bà Phượng, bà Thủy cho thấy, vốn chính sách không làm thay người nghèo, nhưng trao cho họ một điểm tựa để bắt đầu. Đặc biệt, khi đồng vốn ấy đi kèm với sự hướng dẫn của các tổ chức hội, chính quyền cơ sở và cán bộ tín dụng chính sách, sẽ phát huy tối đa giá trị. Bởi, người vay không chỉ nhận tiền, mà còn được tiếp cận thông tin, được nhắc nhở sử dụng vốn đúng mục đích, được đồng hành trong quá trình sản xuất. Nhờ vậy, vốn vay có thêm khả năng chuyển hóa thành thu nhập, thành năng lực tự chủ và thành ý chí vươn lên.
Ở vùng đất tận cùng phía Tây Nam, nơi biên giới, biển đảo, đồng bằng và đô thị cùng hiện diện trong một không gian phát triển mới, giảm nghèo không chỉ là câu chuyện của những chỉ tiêu. Đó là hành trình giúp người dân có thêm cơ hội làm ăn, có việc làm, có thu nhập, có điều kiện chăm lo cho gia đình và tham gia vào sự phát triển chung của địa phương.
Nhìn từ Tri Tôn đến Rạch Giá, từ những vườn rau xanh đến ao sen thương phẩm, có thể thấy sức mạnh của tín dụng chính sách nằm ở khả năng đánh thức nội lực người dân. Khi người vay biết tính toán, chọn mô hình phù hợp với đất đai, lao động, tập quán sản xuất và nhu cầu thị trường, đồng vốn ưu đãi sẽ trở thành “vốn mồi” cho những mùa sinh kế mới. Và từ những đổi thay nhỏ trong từng hộ gia đình, diện mạo an sinh trên vùng đất An Giang mới đang từng bước được bồi đắp vững chắc hơn.

